24/08/2026
TỪ 01/7/2026: NHẬN TIỀN ĐẶT CỌC, TẠM ỨNG VỚI DỊCH VỤ CÓ PHẢI XUẤT HÓA ĐƠN NGAY KHÔNG?
Một thay đổi rất đáng chú ý của chính sách hóa đơn từ 01/7/2026 là cách xử lý khoản tiền doanh nghiệp nhận trước khi cung cấp dịch vụ.
Theo Khoản 2 Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định nguyên tắc đối với cung cấp dịch vụ:
- Thông thường, thời điểm lập hóa đơn là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không phân biệt đã thu tiền hay chưa.
- Nếu người cung cấp dịch vụ thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ, thì thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền.
- Nhưng có một ngoại lệ rất quan trọng: thu tiền đặt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ thì chưa phải lập hóa đơn tại thời điểm nhận cọc.
Trước 01/7/2026, theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP, ngoại lệ đối với khoản đặt cọc hoặc tạm ứng để bảo đảm thực hiện hợp đồng chỉ được quy định cho một số nhóm dịch vụ nhất định như:
- Kế toán, kiểm toán;
- Tư vấn tài chính, thuế;
- Thẩm định giá;
- Khảo sát, thiết kế kỹ thuật;
- Tư vấn giám sát;
- Lập dự án đầu tư xây dựng.
Nhưng từ 01/7/2026, khoản 2 Điều 9 Nghị định 254/2026/NĐ-CP không còn liệt kê giới hạn các nhóm dịch vụ như quy định cũ, mà quy định theo bản chất khoản đặt cọc theo Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Tôi sẽ lấy Ví dụ cụ thể để mn hiểu rõ hơn
Công ty A ký hợp đồng cung cấp dịch vụ với Công ty B:
Giá trị hợp đồng: 1 tỷ đồng.
Ngay sau khi ký hợp đồng, B chuyển cho A 100 triệu đồng.
* Trường hợp 1 – Đây thực sự là tiền đặt cọc
Hợp đồng quy định: Bên B đặt cọc cho Bên A số tiền bằng 10% giá trị hợp đồng để bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Đồng thời quy định rõ
- Mục đích: bảo đảm giao kết/thực hiện hợp đồng;
- Thời hạn đặt cọc;
- Quyền và nghĩa vụ của hai bên;
- Xử lý tiền cọc nếu một bên không thực hiện hợp đồng;
vTrường hợp hoàn trả tiền cọc;
- Trường hợp sau này tiền cọc được cấn trừ vào nghĩa vụ thanh toán;
- Điều kiện chuyển từ khoản đặt cọc sang khoản thanh toán.
Quan trọng nhất là hồ sơ phải chứng minh: Khoản tiền này được giao để bảo đảm thực hiện hợp đồng chứ chưa phải khoản thanh toán cho phần dịch vụ đã/đang được cung cấp.
Nếu khoản tiền này đúng bản chất là đặt cọc theo Bộ luật Dân sự để bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ, thì khi nhận 100 triệu:
→ Chưa phải lập hóa đơn chỉ vì nhận khoản tiền đặt cọc này.
Khi đó các bạn kế toán có thể theo dõi khoản tiền nhận đặt cọc như một khoản phải trả/nhận ký quỹ, ký cược phù hợp với bản chất và hệ thống tài khoản doanh nghiệp áp dụng, thay vì ghi nhận ngay doanh thu chỉ vì tiền đã về.
* Trường hợp 2 – Gọi là “đặt cọc” nhưng thực chất là thanh toán đợt 1
Hợp đồng ghi: “Thanh toán đợt 1: 10% giá trị hợp đồng ngay sau khi ký.”
Hoặc: “Ứng trước 10% tiền dịch vụ.”
Hoặc: “Tạm ứng chi phí thực hiện dịch vụ.”
Hoặc chứng từ chuyển tiền ghi: “Thanh toán đợt 1 hợp đồng số...”
Hoặc doanh nghiệp lập phiếu thu: “Thu tiền dịch vụ đợt 1.”
Trong khi kế toán lại giải trình: “Đây là tiền đặt cọc nên chúng tôi chưa xuất hóa đơn.”
Lúc này hồ sơ đang thể hiện đây là khoản tiền thanh toán trước cho dịch vụ, không phải một khoản đặt cọc độc lập nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng.
→ Thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu tiền.
Khi kiểm tra, cơ quan thuế hoàn toàn có cơ sở đặt câu hỏi: đây thực sự là đặt cọc, hay doanh nghiệp đang gọi khoản thanh toán trước là đặt cọc để lùi thời điểm lập hóa đơn?
Vì vậy, nếu thực sự là đặt cọc thì bạn nên thống nhất cách thể hiện trên: Hợp đồng → phụ lục → đề nghị đặt cọc → chứng từ ngân hàng → phiếu thu → hạch toán → biên bản xử lý/cấn trừ tiền cọc.
ST
Xin chào các bạn. Mình tên là Thái Sơn hay có biệt hiệu là Sơn Kế Toán Là Giám đốc Công ty đào tạo và tư vấn thuế AMATAX và là Chủ sở hữu của hàng loạt website đào tạo trong lĩnh vực kế toán Tôi tạo nên khóa học này với mục đích...