03/02/2024
Câu chuyện tăng trưởng “nóng” tín dụng vào tháng cuối năm vẫn thường xuyên được đề cập đến. Bên cạnh đó, việc các ngân hàng “ồ ạt” tăng vốn cũng là một chủ đề xuất hiện nhiều trên các mặt báo và diễn đàn.
📝 Bài viết này mang đến góc nhìn tường tận hơn về bản chất của tăng vốn diễn ra tại các NHTM.
________
1. Trước hết thì cần hiểu về vai trò của ngành ngân hàng
Ngân hàng là một ngành đặc thù, chức năng hoạt động của hệ thống ngân hàng có quyết định trọng yếu đến sự vận hành của thị trường tài chính. Hiểu đơn giản thì nó là xương sống của cả nền kinh tế.
Hiệu ứng domino
Đối với ngân hàng, hiệu ứng domino là hiện tượng khi một ngân hàng gặp khó khăn hoặc sụp đổ, nó sẽ làm suy giảm lòng tin và tăng sự lo ngại trong hệ thống tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
2. Tỷ lệ an toàn vốn - CAR
Hệ số CAR (Capital Adequency Ratio) được tính theo TT41 tiếp cận Basel II, quy định tối thiểu là 8%. Đọc hiểu chi tiết công thức thì có thông tư 41, nhưng hiểu một cách đơn giản thì tỷ lệ an toàn vốn là thước đo mức độ an toàn vốn của ngân hàng, được tính theo tỷ lệ phần trăm của vốn tự có (Tier 1 + Tier 2) so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA).
Hệ số CAR nói lên điều gì?
Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này, về lý thuyết, vừa tự bảo vệ mình và vừa bảo vệ những gửi tiền trước những cú sốc tài chính (gây hiệu ứng domino). Có 1 câu hỏi lớn là khi các banks đảm bảo được hệ số CAR cao sẽ tuyệt đối an toàn, liệu chăng có đúng không? Chẳng hạn, hệ số CAR của VPB (2022) là 14.9%, còn nhóm Big4 ước tính chỉ 9.04% (SBV) nên để nói CAR thấp là rủi ro hoặc cao là an toàn thì chưa hoàn toàn chính xác.
3. Tăng vốn để cải thiện hệ số CAR
Từ công thức tính thì để tăng CAR có 2 cách: ngân hàng không tăng RWA quá cao hoặc phải tăng vốn. Để đảm bảo được CAR, các ngân hàng thường chọn cách 2. Vốn tự có của ngân hàng bao gồm:
Vốn cấp 1: chủ yếu là vốn điều lệ, lợi nhuận giữ lại và các quỹ
Vốn cấp 2: vốn bổ sung gồm trái phiếu, giá trị tăng thêm của TSCĐ, chứng khoán được định giá lại, …
Do đặc tính an toàn cao hơn nên thường các bank sẽ chọn tăng vốn cấp 1. Nhưng điều gì khiến nhiều ngân hàng đặt kế hoạch tăng vốn cấp 1 mà phần lớn là vốn điều lệ là chủ yếu. Xét kĩ hơn về nguồn vốn cấp 2 thì đa phần là trái phiếu. NĐ 65 về phát hành TPDN có quy định: Hồ sơ phát hành phải có Báo cáo tình hình sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu đối với trái phiếu còn dư nợ. Tức là khi 1 ngân hàng phát hành TP, trước hết cần chuẩn bị bộ hồ sơ phân tách rõ và có hệ thống theo dõi riêng nguồn tiền huy động từ phát hành TP hay từ các hoạt động khác được sử dụng cho các khoản vay, đầu tư cụ thể nào và ngược lại các khoản cho vay, đầu tư được lấy từ nguồn vốn nào. Yêu cầu phức tạp này khiến ngân hàng rất khó thực hiện bởi vì đặc thù ngành bank là dòng tiền luân chuyển liên tục, nguồn vốn vừa huy động được hoà lẫn vào các nguồn vốn khác. Vì điều này mà các ngân hàng rất "ngại" trong việc huy động vốn từ kênh trái phiếu.
Do vậy mà các bank trước áp lực phải nâng cao hệ số an toàn vốn đã thực hiện tăng vốn điều lệ.
Các case điển hình của tăng vốn điều lệ như VPB bán 15% vốn cổ phần cho SMBC thông qua phát hành cổ phiếu riêng lẻ. CTG đề xuất giữ lại toàn bộ lợi nhuận giai đoạn 2024-2028 để tăng vốn điều lệ hay LPB chi trả cổ tức bằng cổ phiếu. Tóm lược lại, dưới đây là những hình thức tăng vốn phổ biến:
- Chia tách cổ phiếu (Stock Split)
- Phát hành cổ phiếu riêng lẻ (Private Offering)
- Phát hành quyền chọn mua cổ phiếu (Stock Options)
- ESOP
Hình thức bổ sung vốn (tăng vốn) gói gọn lại là vì mục đích cover loss (bao gồm expected losses and unexpected losses), điều này là yêu cầu không chỉ đối với banks và những doanh nghiệp khác cũng vậy. Nhưng vì bank có tính đặc thù riêng như đã được đề cập ở trên, đó là ảnh hưởng chi phối và có tính lan toả trong ngành tài chính nên đảm bảo an toàn vốn được yêu cầu tối thiểu ít nhất 8% (Basel II). Nếu không, trong trường hợp xấu thì hiệu ứng domino có thể đe doạ đến hệ thống tài chính.
Một điểm khác nữa là quy định về mức tối đa cho vay của 1 KH không được vượt quá 15% vốn tự có. Nghĩa là bank A có vốn tự có (giả sử 100% là vốn điều lệ) là 5.000 tỷ thì mức cho vay tối đa là 750 tỷ. Nếu vốn điều lệ của bank A là 15.000 (mức sàn theo Đề án) thì con số được cho vay là 2.250 tỷ. Như vậy thì việc tăng vốn sẽ giúp các bank mở rộng dư nợ cho vay.
"Ồ ạt" tăng vốn cũng đi kèm với những vấn đề khác. Nếu vốn tự có quá cao sẽ kéo theo chi phí vốn lớn. Để cân đối, ngân hàng có thể lựa chọn những tài sản có tỷ suất sinh lời lớn hơn nhưng đồng nghĩa rủi ro phải đối mặt cao.
Trường hợp khác là một số bank phân loại các nhóm nợ chưa đúng với thực tế, dễ xảy ra việc nợ xấu bị che đậy dẫn đến trích lập sai. Như vậy thì hệ số CAR có khả năng bị biến “ảo”.
4. Kết luận
Vén màng đằng sau câu chuyện tăng vốn của các ngân hàng là chưa đủ chính xác nếu chỉ nhìn vào hệ số CAR, nhưng đánh giá tính an toàn của ngân hàng mà không xét đến CAR thì lại là thiếu sót. Nhìn chung thì mấu chốt của tăng vốn điều lệ là để đảm bảo hơn an toàn hệ thống nhưng đồng thời, cũng phối hợp với phân loại và quản lý nợ để mục đích tăng vốn thực sự hiệu quả và minh bạch.
Bài viết của bạn Lâm Bá Đạt trong group Toxic but Logic Finance..