ĐẢM BẢO FUND

ĐẢM BẢO FUND Quỹ đầu tư tài chính, crypto, gold, forex, chứng khoán...

Tài khoản MASTER đang giao dịch bởi Robot và Team vận hành.
21/07/2023

Tài khoản MASTER đang giao dịch bởi Robot và Team vận hành.

KẾT QUẢ GIAO DỊCH của 1 nhà đầu tư từ 15/06/2023 đến 14/07/2023Tỷ suất lợi nhuận: 35%
21/07/2023

KẾT QUẢ GIAO DỊCH của 1 nhà đầu tư
từ 15/06/2023 đến 14/07/2023
Tỷ suất lợi nhuận: 35%

LỜI KHUYÊN ĐẦU TƯ từ  Năm 2017- được coi là năm của tiền điện tử BitcoinGiá hiện tại lúc này có lúc vượ...
12/11/2017

LỜI KHUYÊN ĐẦU TƯ từ
Năm 2017- được coi là năm của tiền điện tử Bitcoin
Giá hiện tại lúc này có lúc vượt ngưỡng 6000$/BTC.
Con số này được các chuyên gia đầu tư dự đoán là vẫn còn thấp.
Theo tầm nhìn của TÀI CHÍNH ĐẢM BẢO thì giá Bitcoin có thể tăng lên đến 20,000$. Thậm chí 40,000$.
Vì vậy, tại thời điểm này chúng ta nên dành một phần quỹ đầu tư để đầu tư dài hạn vào Bitcoin.
Hãy nhớ, tiền điện tử chắc chắn là xu thế mới của những năm tiếp theo. Khi thay thế cho tiền mặt, tiền giấy, và các loại tiền hữu hình khác.

QUY TẮC VÀNG TRONG ĐẦU TƯ CỦA TỶ PHÚ Tỷ phú tuổi 64 gây dựng khối tài sản lớn từ triết lý phân bổ vốn hợp lý và qu...
21/06/2017

QUY TẮC VÀNG TRONG ĐẦU TƯ CỦA TỶ PHÚ
Tỷ phú tuổi 64 gây dựng khối tài sản lớn từ triết lý phân bổ vốn hợp lý và quản trị rủi ro chặt chẽ
1.Phân bổ vốn đầu tư hợp lý

Phân bổ vốn đầu tư hợp lí là bước đầu tiên của việc quản trị rủi ro. Thực tế câu chuyện không biết phân bổ vốn hợp lí cũng là 1 trường hợp hết sức điển hình của rất nhiều nhà đầu tư, cổ phiếu lãi thì bỏ vốn ít mà cổ phiếu lỗ thì lại trót bỏ vốn nhiều. Cho nên dù cả thị trường vẫn tăng trưởng tốt, nhưng bản thân lại không kiếm được lợi nhuận.

Tất nhiên việc phân bổ vốn hợp lí không chỉ đơn giản là chia đều vốn cho số cổ phiếu kiểu như bạn có 10 tỉ, đầu tư 10 cổ phiếu thì bỏ vào mỗi cổ phiếu 1 tỉ. Ngoài ra, Mandel nghĩ không nên bỏ hết tiền của mình vào 1-2 cổ phiếu. "Không bỏ hết trứng vào cùng 1 rổ"- điều đó luôn cần thiết trên thị trường chứng khoán, nhất là với các nhà đầu tư mới. Nhưng cũng đừng đầu tư dàn trải quá nhiều cổ phiếu. Mức hợp lý ở đây là từ 4-5 cổ phiếu trong danh mục đầu tư.

2.Học cách quản trị rủi ro trước khi bắt đầu biết đầu tư

Dưới đây là gợi ý về cách thức quản trị rủi ro trong danh mục đầu tư tương ứng với các loại nhà đầu tư khác nhau, theo Mandel.

- Đối với các nhà đầu tư trẻ tuổi và ưa thích mạo hiểm, tỷ lệ tối đa chỉ nên ở mức 10%.

- Đối với nhà đầu tư chuyên nghiệp nhưng không thích rủi ro, tỷ lệ nên ở mức 5%.

- Nhà đầu tư có quan điểm bảo thủ hơn nhưng vẫn sẵn sàng chấp nhận một chút rủi ro nên có 3% tài sản phân bổ vào tiền số và 5% vào cổ phiếu sao cho các khoản đầu tư thụ động này không quá 10% tài sản.

- Những ai đã nghỉ hưu và chỉ đơn giản là muốn bảo toàn tài sản thì không nên đầu tư xu nào vào tiền số và chỉ nên đầu tư 5% tài sản vào cổ phiếu.

3.Quá tự tin khi giao dịch chính là sai lầm lớn nhất nhiều nhà đầu tư mới mắc phải

Qua những giao dịch, ông đã học được một điều trên thị trường, đó là đám đông điên loạn, thường sẽ phi lý trí và khi họ bị cảm xúc lấn át, đó là lúc họ luôn luôn phạm phải sai lầm.​

Ông cũng nói rằng sự thông minh mà bạn có được nếu không rèn luyện học hỏi mà đem nó đi chiến đấu với thị trường ngay tức khắc vốn là một điều vô cùng sai lầm.

Bạn quá tự tin khi vào lệnh, bạn đặt bạn vào rủi ro vì cái tôi của mình và chắc chắn bạn sẽ tiếp tục mất tiền. Đừng quá tự tin, hãy chăm chỉ học hỏi, rèn luyện ắt đầu tư sẽ có ngày thành công.

4.Lựa chọn các cổ phiếu tốt để đầu tư dài hạn hoặc lướt sóng kĩ thuật trên chính những cổ phiếu đó

Trong chiến lược mua và nắm giữ, việc phân tích ,sàng lọc, lựa chọn cổ phiếu là điều kiện tiên quyết để có thể thu được lợi nhuận tối ưu. Như vậy, nhà đầu tư cần thật sự am hiểu về những công ty mà mình nắm giữ và lựa chọn rất cẩn thận. Nếu tình hình không có gì thay đổi, nhà đầu tư không nên bán cổ phiếu của mình.

Còn đối với lướt sóng, nhà đầu tư có thể sử dụng phân tích kĩ thuật và tìm ra những điểm phù hợp để mua/bán lướt sóng dựa trên những cổ phiếu có nền tảng cơ bản.

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều mã chứng khoán khác nhau, việc tìm kiếm những cổ phiếu tốt thực sự mất nhiều thời gian.

Tuy nhiên, qua sự trợ giúp của máy tính, công nghệ, nhà đầu tư có thể sàng lọc cổ phiếu qua các yếu tố cơ bản như : Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, khả năng thanh khoản, cơ cấu vốn, các chỉ số về khả năng sinh lời như ROA, ROE, EBITDA,..v.v định giá theo các phương pháp tương đối như P/E, P/B, PEG.

Mặc dù kết quả quá khứ không bảo đảm kết quả của tương lai, nhưng chiến lược đầu tư dù dài hạn hay lướt sóng phụ thuộc vào những cổ phiếu tốt đã giúp nhiều nhà đầu tư chứng khoán đạt được thành công và ít nhiều hạn chế được rủi ro.

LỜI KHUYÊN TỪ 10 NHÀ ĐẦU TƯ VĨ ĐẠINhững nhà đầu tư nổi tiếng và thành công luôn có những triết lý riêng của họ. Đố...
15/06/2017

LỜI KHUYÊN TỪ 10 NHÀ ĐẦU TƯ VĨ ĐẠI

Những nhà đầu tư nổi tiếng và thành công luôn có những triết lý riêng của họ. Đối với tỷ phú George Soros, đầu tư tốt là một công việc tẻ ngắt, trong khi Benjamin Graham không tin vào các dự báo.

Trang Business Insider đã điểm lại những lời khuyên nổi tiếng của các nhà đầu tư đã gặt hái thành công lớn trong sự nghiệp:

George Soros: Đầu tư tốt là một công việc chán ngắt

George Soros là một nhà đầu tư tỷ phú người Mỹ gốc Do thái, nổi tiếng vì vụ bán khống đồng Bảng Anh hồi thập niên 1990. Khi đó, Soros đã dẫn đầu các cuộc tấn công khiến đồng bảng Anh mất giá mạnh và bỏ túi 1 tỷ USD.

Nói về đầu tư, Soros cho rằng: “Nếu đầu tư là một hoạt động giải trí, nếu bạn tìm thấy niềm vui, thì có lẽ bạn sẽ không kiếm được tiền. Đầu tư tốt là một công việc tẻ ngắt”.

John Bogle: Thua lỗ là một thực tế của thị trường

Jack Bogle là nhà sáng lập và từng giữ vai trò Giám đốc điều hành (CEO) của quỹ tương hỗ The Vanguard Group. Ông có lần nói rằng: “Nếu không tưởng tượng ra nổi mức thua lỗ 20% trên thị trường chứng khoán thì bạn đừng nên đầu tư cổ phiếu làm gì”.

Bob Farrell: Không nên chạy theo đám đông

Bob Farrell là người đi đầu về phân tích kỹ thuật ở Phố Wall hồi cuối những năm 1950. Ông là một “cựu binh” lâu năm của ngân hàng Merrill Lynch và chứng kiến nhiều phen thăng trầm của thị trường chứng khoán Mỹ qua mấy thập kỷ.

Theo Farrell, “đám đông mua phần lớn cổ phiếu ở mức giá đỉnh và phần ít ở mức giá đáy” và “tới khi tất cả các chuyên gia và dự báo nhất trí với nhau, thì một điều gì đó khác sẽ xảy đến”.

Benjamin Graham: Hãy dè chừng với các dự báo

Benjamin Graham (1894-1976) là một chuyên gia kinh tế và nhà đầu tư. Ông được coi là người đi đầu trong trường phái đầu tư giá trị (value investment) và có ảnh hưởng nhiều tới nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett.

“Thật lố bịch khi cho rằng công chúng có thể kiếm được tiền nhờ các dự báo thị trường”, Graham từng nói.

Philip Fisher: Hãy hiểu giá trị khoản đầu tư của bạn

Philip Fisher (1907-2004) là một trong những nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại. Triết lý đầu tư của ông đã được ghi lại trong cuốn sách đầu tư kinh điển “Cổ phiếu thường và lợi nhuận phi thường” xuất bản năm 1958.

Fisher cho rằng:“Thị trường chứng khoán đầy rẫy những người biết giá của mọi thứ, nhưng chẳng biết giá trị của thứ gì”.

Warren Buffett: Nên tham lam khi kẻ khác sợ hãi

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet, Chủ tịch tập đoàn Berkshire Hathaway, người giàu thứ tư thế giới theo xếp hạng của Bloomberg, từng nói: “Các nhà đầu tư nên nhớ rằng, sự hưng phấn và các khoản chi phí là kẻ thù của họ. Nếu họ cứ một mực đòi xác định thời điểm để tham gia vào thị trường chứng khoán, thì họ nên sợ hãi khi kẻ khác tham lam, và chỉ tham lam khi kẻ khác sợ hãi”.

Thomas Rowe Price Jr.: Cần phải hiểu lãnh đạo công ty

Thomas Rowe Price Jr. (1898-1983) là nhà sáng lập công ty đầu tư T. Rowe Price, đồng thời được coi là cha đẻ của trường phái đầu tư tăng trưởng (growth investing).

Ông cho rằng: “Mọi doanh nghiệp đều do con người tạo nên. Đó là thành quả của các cá nhân, phản ánh tính cách, triết lý kinh doanh của những người sáng lập nên công ty cũng như những người chèo lái công ty vượt qua các khó khăn trong quá trình tồn tại. Nếu bạn muốn hiểu bất kỳ một công ty nào, điều quan trọng là bạn cần phải hiểu về nền tảng của những con người đã lập nên công ty đó và lãnh đạo nó trong quá khứ, cũng như hy vọng và tham vọng của những người đang vạch ra tương lai cho nó”.

Peter Lynch: Hãy học tập

Peter Lynch là nhà quản lý quỹ xuất chúng của Mỹ, giữ vai trò Giám đốc quỹ Megallan Fund trong thời gian từ năm 1977-1990. Ông đã đưa tài sản của quỹ này tăng từ 18 triệu USD lên 14 tỷ USD trong khoảng thời gian này, với mức lợi nhuận trung bình mỗi năm là 29,2%.
“Đầu tư mà không nghiên cứu thì cũng giống như chơi bài mà không nhìn vào quân bài”, Lynch từng nói.

John Neff: Hãy làm việc gì đó thông minh, đừng làm việc đã phổ biến

John Neff là một trong những nhà đầu tư quỹ tương hỗ nổi tiếng nhất trong vòng 40 năm qua. Ông từng là người đứng đầu quỹ Windsor Fund thuộc công ty quản lý tài sản Vanguard từ năm 1964-1995. Trong khoảng thời gian đó, quỹ Windsor mang lại mức lợi nhuận bình quân 13,7% mỗi năm.

“Những việc không phổ biến không dễ làm nhưng lại là những việc giúp bạn kiếm được tiền. Hãy mua những cổ phiếu mà người khác cho là tồi, rồi chờ đến khi giá trị thực sự của chúng được công nhận”, Neff nói.

Ray Dalio: Cần phải hiểu hệ thống

Ray Dalio được xem là một trong những nhà quản lý quỹ đầu cơ giỏi nhất thế giới hiện nay. Ông là nhà sáng lập Bridgewater Associates, công ty quản lý quỹ đầu cơ hàng đầu thế giới với số tài sản được quản lý khoảng 120 tỷ USD.

“Một nền kinh tế chỉ là tổng thể của những giao dịch tạo nên nó. Mỗi giao dịch là một điều đơn giản. Bởi vì có rất nhiều giao dịch nên nền kinh tế trông phức tạp hơn thực tế.

Nếu thay vì nhìn vào nền kinh tế từ trên đỉnh xuống, chúng ta nhìn nó từ mỗi giao dịch đi lên. Như thế sẽ dễ hiểu hơn”, ông Dalio đưa ra lời khuyên.

Giá vàng trong nước không thay đổi nhiều so với hôm qua. Chênh lệch giữa vàng trong nước và thế giới ở mức 3,9 triệu đồn...
06/02/2015

Giá vàng trong nước không thay đổi nhiều so với hôm qua. Chênh lệch giữa vàng trong nước và thế giới ở mức 3,9 triệu đồng/lượng. Tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng tiếp tục tăng.
Giá vàng trong nước không thay đổi nhiều so với hôm qua. Chênh lệch giữa vàng trong nước và thế giới ở mức 3,9 triệu đồng/lượng. Tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng tiếp tục tăng.

Giá vàng trong nước
Lúc 8h50 sáng nay ngày 13/5, giá vàng SJC của Tập đoàn VBĐQ DOJI niêm yết ở mức 34,99 triệu đồng/lượng (mua vào) – 35,03 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 10 nghìn đồng/lượng so với ngày hôm qua.

Giá vàng niêm yết tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn giao dịch mua vào ở mức 34,97 triệu đồng/lượng- bán ra 35,03 triệu đồng/lượng, tăng 10 nghìn đồng/lượng so với ngày hôm qua.

Công ty vàng Bảo tín minh châu giao dịch mua vào 35,00 triệu đồng/lượng- bán ra 35,04 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá mua và bán ở mức 40 nghìn đồng/lượng.

Với mức giao dịch trên, giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới quy đổi 3,9 triệu đồng/lượng.

Trong tháng 4/2015, giá vàng trong nước giảm 130 nghìn đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá mua vào- bán ra ở các công ty vàng bạc đá quý duy trì ở khoảng 30.000 – 100.000 đồng mỗi lượng.

Giá vàng thế giới
Giá vàng tăng khi USD và cổ phiếu châu Âu giảm do bán tháo trên thị trường trái phiếu toàn cầu.
Giá vàng giao ngay lúc 9h10 giao dịch tại 1.191 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 6/2015 trên sàn Comex New York tăng 9,4 USD, tương đương 0,8%, lên 1.192,4 USD/ounce.

Chỉ số Đôla, theo dõi đồng bạc xanh với các đồng tiền mạnh trong giỏ tiền tệ, giảm 0,5%, giúp hỗ trợ giá vàng. Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ tăng lên cao nhất 6 tháng ở trên 2,3%.

Lợi tức trái phiếu tăng đang gây áp lực lên giá vàng do làm tăng chi phí cơ hội nắm giữ tài sản phi lợi nhuận. Tuy áp lực này phần nào được bù đắp do sự suy yếu trên các thị trường khác, song giá vàng vẫn dễ bị tổn thương khi lợi tức trái phiếu tiếp tục tăng.

Giá vàng được hỗ trợ khi cổ phiếu châu Âu giảm mạnh khi vàng được coi là tài sản trú ẩn an toàn.

Giới đầu tư cũng đang theo dõi tình hình Hy Lạp sau khi một quan chức ngân hàng trung ương Hy Lạp cho biết, nước này đã hoàn 750 triệu EUR cho Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nhưng việc này cũng khiến tình trạng tài chính trở nên kiệt quệ.

Lượng vàng nắm giữ của Quỹ tín thác lớn nhất thế giới SPDR, một chỉ số cho thấy lòng tin của giới đầu tư, hôm thứ Sáu 8/5 giảm mạnh nhất trong năm nay.

Tỷ giá ngày 13/5/2015
Sáng 13/05, tỷ giá USD/VND niêm yết tại các ngân hàng thương mại tăng nhẹ trong biên độ khoảng từ 5 - 20 đồng cả hai chiều mua và bán.

Ngân hàng Vietcombank niêm yết tỷ giá USD/VND tại mức21.680 - 21.740(mua vào - bán ra), tăng 5 đồng cả hai chiều mua và bán so với sáng ngày hôm qua.

Ngân hàng Vietinbank nâng tỷ giá USD/VND lên mức 21.670 - 21.740 (mua vào - bán ra), không đổi so với ngày hôm qua.

Ngân hàng Techcombank nâng tỷ giá USD/VND lên mức 21.650 - 21.750 (mua vào - bán ra), tăng 10 đồng chiều bán ra so với ngày hôm qua.

Ngân hàng Eximbank hiện niêm yết tỷ giá USD/VND tại 21.660 - 21.740 (mua vào - bán ra), tăng 10 đồng cả hai chiều mua và bán so với ngày hôm qua.

Ngân hàng ACB niêm yết tỷ giá USD/VND tại 21.660 đồng/USD chiều mua vào, 21.740 đồng/USD chiều bán ra, không đổi so với ngày hôm qua.

Ngân hàng BIDV niêm yết tỷ giá USD/VND tại 21.680 - 21.740 (mua vào - bán ra), tăng 15 đồng cả hai chiều mua và bán so với ngày hôm qua.

Ngân hàng HSBC niêm yết tỷ giá USD/VND tại mức 21.660 đồng/USD mua vào và 21.760 đồng/USD bán ra, tăng 10 đồng cả hai chiều mua và bán.

8h45, trên thị trường USD tự do Hà Nội, tỷ giá USD/VND thay đổi không nhiều, mua vào trong khoảng 21.710 - 21.720 đồng/USD, bán ra trong khoảng 21.730 - 21.750 đồng/USD.

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2014Do ảnh hưởng của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, hoạt động của thị trường...
12/04/2014

THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM 2014
Do ảnh hưởng của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2014 vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, trên giác độ khác, vẫn có thể dễ dàng nhận thấy những kết quả khả quan của thị trường này trong năm qua.
Theo Bộ Tài chính, năm 2014, tình hình kinh tế thế giới đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thị trường tài chính thế giới đã từng bước đi vào ổn định, dòng vốn đổ vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đã tăng do các nền kinh tế này thực thi chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng hơn và giữ lãi suất ở mức thấp. Trong khi đó, tình hình kinh tế trong nước năm 2014 có nhiều dấu hiệu khả quan. Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp; Mặt bằng lãi suất có chiều hướng giảm dần; tăng trưởng tín dụng có cải thiện; thị trường ngoại hối trong xu thế ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng; quy mô dòng vốn FDI và FII tăng; bội chi ngân sách được kiểm soát ở mức 5,3% GDP, xếp hạng tín nhiệm quốc gia được cải thiện và huy động thành công trái phiếu quốc tế với lãi suất thấp (4,8%/năm)...

Với những nỗ lực đổi mới cơ chế chính sách và điều hành, tăng cường khả năng quản lý giám sát, thị trường tài chính năm 2014 đã có những bước phát triển tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển. Bộ Tài chính đã tập trung hoàn thiện thể chế và khuôn khổ pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động trên thị trường tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát đối với thị trường này.

Theo đó, mặc dù chịu ảnh hưởng, tác động của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, các cấu phần của thị trường tài chính vẫn có sự phát triển so với năm 2013, tổng giá trị huy động vốn thông qua kênh phát hành trái phiếu chính phủ tăng 29% so với năm 2013, đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay; tổng giá trị huy động vốn qua TTCK đạt 237 nghìn tỷ đồng tương đương 5,9 % GDP, tăng 6% so với năm 2013, thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định với tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng khoảng 14,2% so với năm 2013. Công tác quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK), vấn đề công bố thông tin, quản trị công ty niêm yết tiếp tục được củng cố qua đó thúc đẩy thị trường hoạt động công khai, minh bạch. Những kết quả khả quan của thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2014 được thể hiện trên những kết quả như sau:

Đối với TTCK:

- Về cơ chế, chính sách: Hệ thống văn bản, cơ chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thị trường đồng thời tăng cường công tác quản lý, giám sát TTCK. Trong năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển TTCK phái sinh, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư và UBCKNN đã ban hành các Quyết định hướng dẫn về chế độ quản lý giám sát và chế độ thu, sử dụng phí trên thị trường chứng khoán. Hiện tại, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của TTCK tương đối đồng bộ, thị trường vận hành trên nguyên tắc công khai minh bạch, tạo niềm tin cho các chủ thể tham gia trên thị trường.

- Đến cuối tháng 12/2014, có 673 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên thị trường chứng khoán với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 425.000 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2013. Giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt khoảng 31,48% GDP. Tình hình sản xuất kinh doanh của DN niêm yết trong 9 tháng đầu năm 2014 có cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2013, có 87% công ty niêm yết hoạt động có lãi, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2013; tổng lợi nhuận sau thuế của toàn bộ công ty niêm yết trong 9 tháng đầu năm 2014 tăng 6,1%. Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,37 triệu tài khoản, tăng 6% so với cuối năm 2013. Trong 11 tháng đầu năm 2014, dòng vốn nước ngoài vào thuần đạt 9,3 triệu USD so với dòng vốn vào thuần âm (-11,4 triệu USD) năm 2013. Giá trị giao dịch bình quân của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ là 2.969 tỷ đồng/phiên tăng 116% so với năm 2013. Giá trị giao dịch bình quân của trái phiếu là 2.531 tỷ đồng/phiên tăng 93% so với năm 2013.

- Về chủ thể tham gia thị trường: Tính đến cuối năm 2014 có 43 công ty quản lý quỹ (trong đó 21 văn phòng đại diện công ty quản lý quỹ nước ngoài), 85 công ty chứng khoán, 26 quỹ đầu tư hoạt động trên TTCK; tổng giá trị huy động của các quỹ đầu tư chứng khoán năm 2014 đạt hơn 7.000 tỷ đồng; tổng giá trị danh mục quản lý của các công ty quản lý quỹ đạt 4,4 tỷ USD. Các công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường đã thực hiện hầu hết các dịch vụ được Luật Chứng khoán cho phép.

- Trong năm 2014, các tổ chức kinh doanh chứng khoán tiếp tục được tái cơ cấu, hợp nhất, sát nhập để tăng năng lực hoạt động, tăng quy mô vốn, quản trị DN và khả năng kiểm soát rủi ro. Hoạt động tái cấu trúc các tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện theo lộ trình, không làm xáo trộn thị trường và tuân thủ quy định của pháp luật. Thông qua tái cấu trúc đã giảm số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, số lượng công ty chứng khoán giảm từ 105 xuống 85 công ty, số lượng công ty quản lý quỹ giảm từ 49 xuống 43 công ty; thay thế các quỹ đầu tư hoạt động theo dạng quỹ đóng, quỹ thành viên bằng các quỹ mở hoạt động linh hoạt hơn và có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đối với thị trường trái phiếu

- Về cơ chế chính sách: Về cơ bản, hệ thống cơ chế, chính sách đối với thị trường trái phiếu đến nay đã được ban hành khá đầy đủ, bao quát hầu hết các hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu, tạo ra nền tảng cần thiết để khuyến khích, thúc đẩy, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn trung dài hạn thông qua phát hành trái phiếu. Trong năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm (Nghị định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/9/2014); Bộ Tài chính đã sửa đổi bổ sung các Thông tư hướng dẫn Nghị định 01/2011/NĐ-CP về phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương sau thời gian triển khai thực hiện từ năm 2012.

- Về mặt điều hành: năm 2014 mặc dù thị trường trái phiếu có nhiều biến động, tuy nhiên với sự điều hành linh hoạt theo sát diễn biến thực tế của thị trường, hoạt động của thị trường trái phiếu đã đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường vốn, từng bước phối hợp nhịp nhàng với điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và làm cơ sở cho các hoạt động huy động vốn trong giai đoạn hiện nay.
- Với khuôn khổ pháp lý đồng bộ và sự điều hành có hiệu quả, thị trường trái phiếu năm 2014 đã đạt được nhiều kết quả nổi bật:

+ Về khối lượng huy động: Tổng số vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu (gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu DN) là 288.722 tỷ đồng, bằng 7,27% GDP năm 2014. Trong đó riêng khối lượng phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2014 đạt 234.067 tỷ đồng, tăng 30% so với khối lượng huy động năm 2013 và gấp 3,5 lần năm 2010. Khối lượng huy động trái phiếu Chính phủ bảo lãnh là 17.555 tỷ đồng, trái phiếu chính quyền địa phương là 7.400 tỷ đồng. Khối lượng huy động trái phiếu DN là 26.722 tỷ đồng. Từ đó đã góp phần thực hiện hoàn thành vượt mức dự toán NSNN năm 2014 và đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.

+ Về kỳ hạn phát hành: Kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh đã được kéo dài so với các năm trước. Kỳ hạn phát hành bình quân trái phiếu Chính phủ đạt 4,95 năm (tăng 1,74 năm so với năm 2013), trong đó trái phiếu kỳ hạn dài từ 5 năm trở lên chiếm 47% tổng khối lượng phát hành năm 2014. Kỳ hạn phát hành bình quân của trái phiếu do Ngân hàng Phát triển phát hành là 3,36 năm (tăng 0,53 năm so với năm 2013) và do Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành là 3,70 năm (tăng 0,71 năm so với năm 2013).

+ Về lãi suất phát hành: So với cuối năm 2013, mặt bằng lãi suất thị trường trái phiếu tại thời điểm cuối năm 2014 giảm khoảng 1,30%-3,70% đối với các kỳ hạn, phù hợp với điều hành giảm lãi suất của Ngân hàng nhà nước, tiết kiệm chi phí huy động vốn cho NSNN.

+ Về dư nợ thị trường: Tại thời điểm cuối năm 2014, dư nợ toàn thị trường trái phiếu là 864.952 tỷ đồng, bằng 21,77% GDP năm 2014 (năm 2013 là 19%GDP); trong đó riêng dư nợ thị trường trái phiếu Chính phủ là 549.991 tỷ đồng, bằng 13,84% GDP năm 2014 (năm 2013 là 11,26% GDP).

Trên thị trường trái phiếu đã hình thành hệ thống các nhà tạo lập thị trường hoạt động có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động huy động vốn trên cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Năm 2014, giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp đã tăng khoảng 2 lần so với năm 2013, góp phần tăng thanh khoản cho thị trường trái phiếu. Có thể nói, thị trường trái phiếu đã trở thành kênh huy động vốn có hiệu quả cho Chính phủ, các ngân hàng chính sách, chính quyền địa phương và DN. Trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, các DN đã quan tâm lựa chọn kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

Đối với thị trường bảo hiểm

- Về cơ chế chính sách: Hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các văn bản pháp luật có liên quan tiếp tục được tập trung hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường bảo hiểm, đáp ứng các cam kết song phương, đa phương về hội nhập quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi đối với người được bảo hiểm và DNBH. Năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định về bảo hiểm bảo lãnh (Nghị định 68/2014/NĐ-CP), Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư hướng dẫn triển khai bảo hiểm thủy sản (Thông tư 115/2014/TT-BTC và Thông tư 116/2014/TT-BTC).

- Năm 2014, thị trường bảo hiểm đạt được những kết quả tích cực, các DNBH (DNBH) duy trì tốc độ tăng trưởng tốt, năng lực tài chính ổn định, phát triển được các sản phầm bảo hiểm mới. Thị trường bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng so với các năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2014 dự kiến đạt 52.680 tỷ đồng, tăng 14,2% so với năm 2013. Tại thời điểm cuối năm 2014, tổng tài sản đạt 154.222 tỷ đồng tăng 15,2% so với năm 2013; trong đó đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 131.371 tỷ đồng tăng 15,6% so với năm 2013. Cũng trong năm 2014, các DNBH đã giải quyết bồi thường và trả tiền bảo hiểm hơn 18.552 tỷ đồng tăng 4,1% so với năm 2013, trong đó, đã kịp thời xử lý bồi thường cho các DN bị thiệt hại tại Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh do một số phần tử quá khích lợi dụng việc công nhân biểu tình phản đối liên quan đến sự kiện Trung Quốc đặt dàn khoan HD981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để phá hoại tài sản một số DN, qua đó góp phần ổn định kinh tế xã hội.

- Các DNBH tiếp tục được cấu trúc theo Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày 6/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó các DNBH đã được củng cố năng lực tài chính, tăng cường mức độ an toàn tài chính và hiệu quả đầu tư. Đến nay, thị trường bảo hiểm có 61 - DNBH đã đẩy mạnh khai thác tại các mảng thị trường tiềm năng, phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới như bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm thủy sản, bảo hiểm nông nghiệp và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm bảo lãnh. Cụ thể, đối với bảo hiểm nông nghiệp, sau 3 năm thí điểm thực hiện, số hộ tham gia bảo hiểm là 304.017 hộ với tổng giá trị được bảo hiểm là 7.747,9 tỷ đồng; tổng doanh thu phí bảo hiểm là 394 tỷ đồng, số tiền bồi thường là 707,4 tỷ đồng. Bộ Tài chính đang tiếp tục phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu xây dựng phương án mở rộng bảo hiểm nông nghiệp theo hướng mở rộng và triển khai bảo hiểm cây lúa và bảo hiểm gia súc. Trong khi đó, đối với bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, sau 3 năm thực hiện, các DNBH đã cấp được 46 hợp đồng bảo hiểm với tổng doanh thu phí bảo hiểm là 17,23 tỷ đồng, số tiền bồi thường là 13,33 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu được bảo hiểm là 12.592 tỷ đồng.

Đối với lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán

- Hệ thống các văn bản pháp lý trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán được ban hành đầy đủ, đồng bộ từ cấp Luật, Nghị định và Thông tư hướng dẫn. Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán được ban hành kịp thời, phù hợp với thông lệ quốc tế tạo thuận lợi cho hoạt động kế toán, kiểm toán phát triển. Hoạt động kế toán, kiểm toán đã xác định được vị trí trong nền kinh tế và góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hoá môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia. Trong năm 2014, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư hướng dẫn chế độ kế toán đối với DNBH nhân thọ, chế độ kế toán đối với công ty chứng khoán, Thông tư hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất; chuẩn bị ban hành thêm 10 chuẩn mực kiểm toán và đang nghiên cứu ban hành 26 chuẩn mực kế toán.

- Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và quy mô hoạt động của từng công ty, các dịch vụ do các công ty kế toán, kiểm toán cung cấp đã không ngừng được đa dạng hoá. Mặc dù cá biệt còn có trường hợp chất lượng dịch vụ chưa cao, song về cơ bản dịch vụ này ngày càng được được khách hàng tín nhiệm, được xã hội thừa nhận. Trong đó, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng lớn nhất; các dịch vụ tư vấn kế toán, kiểm toán đang dần tăng tỷ trọng doanh thu.

- Đối với dịch vụ kiểm toán, mặc dù phát triển sau nhưng phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, từ chỗ chỉ kiểm toán các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành, tổ chức kinh doanh chứng khoán đến nay đã mở rộng thêm nhiều đối tượng khác như: các công ty đại chúng, DN phát hành chứng khoán, Quỹ đầu tư phát triển địa phương và một số nghiệp vụ kiểm toán chuyên ngành...

Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Tài chính, mặc dù đã đạt được những kết quả nêu trên, song về tổng thể thị trường tài chính vẫn còn những hạn chế nhất định. Theo đó, tính ổn định, bền vững trong huy động các nguồn lực chưa cao; trên thị trường vẫn chưa có một số định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư tương hỗ, DN xếp hạng tín nhiệm. Ngoài ra, so với các nước trong khu vực, thị trường tài chính Việt Nam quy mô vẫn còn nhỏ. Trong đó, một số hạn chế chủ yếu là:

Một là, khả năng tập trung và phân bổ nguồn lực tài chính qua thị trường chưa thực sự hiệu quả. Quy mô của thị trường trái phiếu chỉ chiếm 21,77% GDP năm 2014, còn nhỏ so với quy mô thị trường trái phiếu của các nước trong khu vực và quốc tế (quy mô thị trường trái phiếu của Malaysia là 102%GDP, Singapore là 81%GDP, Thái Lan là 36% GDP, Philippin là 38%GDP, Hàn Quốc là 122%GDP, Trung Quốc là 53%GDP). Bên cạnh đó, giá cổ phiếu trên TTCK thường xuyên biến động, gây tâm lý dè dặt cho công chúng đầu tư; TTCK chưa thực sự phát huy vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, theo đó chưa hỗ trợ được tích cực cho quá trình cổ phần hóa DN nhà nước và thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Hai là, sự phối hợp trong quản lý và điều hành giữa các kênh huy động, giữa các loại thị trường (thị trường tiền tệ, thị trường vốn) có thời điểm còn chưa nhịp nhàng.

Ba là, mặc dù tốc độ phát triển nhanh nhưng quy mô của thị trường bảo hiểm còn nhỏ chưa tương xứng với tiềm năng phát triển; hiệu quả sử dụng vốn huy động và tỷ lệ vốn giành cho đầu tư dài hạn còn hạn chế.

Bốn là, chất lượng hoạt động kế toán, kiểm toán còn có những hạn chế nhất định, khả năng cung cấp dịch vụ của các tổ chức kiểm toán chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. DNBH gồm 30 DNBH phi nhân thọ, 17 DNBH nhân thọ, 12 DN môi giới bảo hiểm và 2 DN tái bảo hiểm với tổng vốn chủ sở hữu gần 40.982 tỷ đồng tăng 11,4% so với năm 2013.

XU HƯỚNG TÍN DỤNG 2014Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong 5 tháng đầu năm, tính đến 23/5, tăng trưởng tín dụng của ...
02/04/2014

XU HƯỚNG TÍN DỤNG 2014

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong 5 tháng đầu năm, tính đến 23/5, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng cả nước chỉ đạt 1,31% so với cuối năm 2013, tức bằng một nửa cùng kỳ năm trước và đạt chưa đầy 10% kế hoạch tăng từ 12-14% cả năm 2014 của NHNN.
Tín dụng tăng chậm được giải thích chủ yếu do các doanh nghiệp chưa có nhiều cơ hội, động lực đầu tư; cũng như còn hạn chế cả điều kiện vay vốn và khả năng trả nợ do chậm tái cấu trúc và chưa thuận lợi về thị trường tiêu thụ.

Gánh nặng nợ xấu (theo NHNN chiếm tới 9,7% tổng dư nợ tín dụng hiện nay, dù từ đầu năm đến nay, VAMC mua thêm 6.300 tỷ đồng nợ xấu, nâng tổng số nợ xấu đã mua lên 45.650 tỷ đồng) chậm được cải thiện, áp lực cơ cấu lại nợ theo tiêu chuẩn chặt chẽ cao hơn theo Thông tư 09 cũng khiến các ngân hàng thận trọng cho vay.

Lãi suất cho vay đã được cải thiện. Theo NHNN, tính đến ngày 15/5, dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 15%/năm chiếm 5% tổng dự nợ cho vay VND, giảm mạnh so với tỷ trọng 65,8% trước thời điểm 15/7/2012; dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 13%/năm chiếm 15% tổng dư nợ cho vay VND, giảm so với tỷ trong 31% vào tháng 6/2013. Có doanh nghiệp đã được vay lãi suất 5 - 6%/năm, thậm chí có trường hợp chỉ 4,8%/năm và nhiều gói hỗ trợ tín dụng, các hình thức liên kết đầu tư và cho vay đã và đang được đề xuất, thử nghiệm…

Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung và tăng khá nhanh trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Đến cuối tháng 4, dư nợ tín dụng cho vay nông nghiệp nông thôn ước đạt 685.426 tỷ đồng, tăng 2% so với cuối năm 2013. Nợ xấu cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đến nay chiếm tỷ trọng 2,83% so với tổng dư nợ cho vay lĩnh vực này (thấp hơn tỷ lệ nợ xấu chung của dư nợ toàn nền kinh tế). Dư nợ tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 873.268 tỷ đồng, tăng 0,34% so với cuối năm 2013. Dư nợ tín dụng cho vay lĩnh vực xuất khẩu tăng mạnh nhất, đạt 176.052 tỷ đồng, tăng tới 5,9% so với cuối năm 2013, tức cao hơn 4 lần mức tăng dư nợ tín dụng cho vay chung toàn nền kinh tế. Tín dụng giải ngân các gói hỗ trợ thị trường bất động sản khá chậm, cả cho đối tượng nhà thu nhập thấp, cũng như cho nhà thương mại. Tính đến ngày 30/4, mới có 4.488 khách hàng ký hợp đồng tín dụng vay hỗ trợ nhà ở lãi suất thấp, với tổng số tiền đạt 3.470 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 11,6% tổng nguồn vốn hỗ trợ nhà ở. Trong đó, có 4.469 khách hàng cá nhân đã ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng, tổng số tiền đạt 1.680 tỷ đồng.

Mặc dù tín dụng trong những tháng đầu năm tăng chậm và nợ xấu những tháng tới có thể sẽ tăng nhanh hơn do chính thức áp dụng từ tháng 6/2014 Thông tư 09 về phân loại, xử lý nợ xấu của NHNN, nhưng kỳ vọng đạt kế hoạch tăng trưởng tín dụng cả năm 2014 vẫn không bị dập tắt gắn với xu hướng tín dụng gia tăng nhanh hơn cùng với các cơ hội kinh doanh, hợp đồng xuất nhập khẩu và hoạt động mua sắm vào dịp ngày lễ, Tết cuối năm và sự khởi sắc hơn của thị trường, cũng như sự năng động của doanh nghiệp và các ngân hàng theo sự chỉ đạo và hỗ trợ và phối hợp đồng bộ hơn từ các cơ quan nhà nước các cấp…

Đặc biệt, trong số các giải pháp mở rộng và năng cao hiệu quả tín dụng thời gian tới, cần coi trọng hình thức cho vay phát triển nông nghiệp theo chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp - ngân hàng và nông dân… Đây là sự mở đầu cho việc lựa chọn và ký kết các hợp đồng tín dụng khác giữa các ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp có mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, góp phần mở ra một hướng đi mới, cách làm mới có hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn trong thời gian tới…

Address

Hanoi
10000

Telephone

+84983543169

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when ĐẢM BẢO FUND posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to ĐẢM BẢO FUND:

Share