Tinh Hoa Đầu Tư

Tinh Hoa Đầu Tư Đào tạo, Tư vấn đầu tư chứng khoán

ĐỪNG QUÊN CHÚNG TA CÓ HẸN VÀO TỐI NAY NHÉ CẢ NHÀKHÓA CHIA SẺ MIỄN PHÍ - ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CHO NGƯỜI MỚITrước khi bỏ tiề...
25/11/2022

ĐỪNG QUÊN CHÚNG TA CÓ HẸN VÀO TỐI NAY NHÉ CẢ NHÀ

KHÓA CHIA SẺ MIỄN PHÍ - ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CHO NGƯỜI MỚI

Trước khi bỏ tiền vào thị trường, nhà đầu tư cần chuẩn bị kiến thức nền tảng chắc chắn, để tránh tình trạng “ai bảo sao, mua vậy". Có thể thấy, năm 2022 là một năm mất mát với nhiều anh chị, đặc biệt với các F0. Vì vậy, với mục đích hỗ trợ, team tổ chức khoá chia sẻ: “ Đầu tư chứng khoán cho người mới".

Đăng kí link nhận tài liệu tại: https://forms.gle/X4thEQUy5xMhdHVg8

Buổi chia sẻ sẽ được live trực tiếp trên Page của Tinh hoa đầu tư trong 3 buổi với nội dung:

Buổi 1 (Ngày 25/11) : Tổng quan về thị trường chứng khoán
Buổi 2 (Ngày 26/11) : Phân tích kỹ thuật
Buổi 3 (Ngày 27/11) : Phân tích cơ bản

Hi vọng khóa chia sẻ sẽ đem lại những kiến thức giúp anh chị tự tin khi tham gia vào thị trường.

Thông tin liên hệ: 0963.825.107

KHÓA CHIA SẺ MIỄN PHÍ - ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CHO NGƯỜI MỚITrước khi bỏ tiền vào thị trường, nhà đầu tư cần chuẩn bị kiến t...
18/11/2022

KHÓA CHIA SẺ MIỄN PHÍ - ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CHO NGƯỜI MỚI

Trước khi bỏ tiền vào thị trường, nhà đầu tư cần chuẩn bị kiến thức nền tảng chắc chắn, để tránh tình trạng “ai bảo sao, mua vậy". Có thể thấy, năm 2022 là một năm mất mát với nhiều anh chị, đặc biệt với các F0. Vì vậy, với mục đích hỗ trợ, team tổ chức khoá chia sẻ: “ Đầu tư chứng khoán cho người mới".

Đăng kí link nhận tài liệu tại: https://forms.gle/X4thEQUy5xMhdHVg8

Buổi chia sẻ sẽ được live trực tiếp trên Page của Tinh hoa đầu tư trong 3 buổi với nội dung:

Buổi 1 (Ngày 25/11) : Tổng quan về thị trường chứng khoán
Buổi 2 (Ngày 26/11) : Phân tích kỹ thuật
Buổi 3 (Ngày 27/11) : Phân tích cơ bản

Hi vọng khóa chia sẻ sẽ đem lại những kiến thức giúp anh chị tự tin khi tham gia vào thị trường.

Thông tin liên hệ: 0963.825.107

HÀN QUỐC - KHỦNG HOẢNG THANH KHOẢN TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆPKorea Electric Power - công ty điện lực lớn nhất Hàn Quốc; sở ...
14/11/2022

HÀN QUỐC - KHỦNG HOẢNG THANH KHOẢN TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP

Korea Electric Power - công ty điện lực lớn nhất Hàn Quốc; sở hữu xếp hạng tín nhiệm AAA, chỉ huy động được một nửa tiền so với kế hoạch chào bán trái phiếu ban đầu. Cụ thể, theo nhà lập pháp Chung Il-young của Đảng Dân chủ, Korea Electric Power chỉ huy động được 590 tỷ won (432 triệu USD) vào tháng 10, chưa bằng một nửa so với mục tiêu 1,2 nghìn tỷ won.
Điều này ngầm chỉ ra, các doanh nghiệp tại đất nước Kim Chi đang gặp nhiều khó khăn trong việc xoay sở nguồn vốn.

Giới chuyên gia tài chính tại Hàn Quốc chỉ ra rằng Gangwon Jungdo Development là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này khi mà họ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trái phiếu. Thống đốc Kim Jin Tae của tỉnh Gangwon quyết định đưa ra tòa án yêu cầu phá sản đối với Gangwon Jungdo Development để tránh phải trả lại 205 tỷ won từ Công ty chứng khoán BNK. Quyết định này đã giáng đòn mạnh vào thị trường tài chính nói chung. Quá bất ngờ trước phản ứng từ thị trường, nên vị thống đốc này đã hứa sẽ trả nợ trước ngày 15 tháng 12. Tuy nhiên, chiếc ly đã vỡ khó lành, thông báo này đã quá muộn để xoa dịu tâm lý thị trường.

Hiệu ứng Domino diễn ra, các nhà đầu tư ngày càng lo ngại về mức độ tín nhiệm của trái phiếu doanh nghiệp; dẫn đến một thị trường mất thanh khoản và tăng mạnh lợi suất. Theo dữ liệu của Hiệp hội Đầu tư Tài chính Hàn Quốc, lợi suất trung bình đối với trái phiếu doanh nghiệp kỳ hạn 3 năm đạt 5,69% vào tuần trước, tăng so với mức 4,537% của hai tháng trước.

Để xoa dịu thị trường, Bộ trưởng Tài chính Choo Kyung-ho chủ trì một cuộc họp khẩn cấp cùng với Thống đốc BOK Rhee Chang-yong và các nhà hoạch định chính sách khác. Sau đó, chính phủ và Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã thông báo vào ngày 23 tháng 10 rằng họ sẽ bơm ít nhất 50 nghìn tỷ won vào thị trường trái phiếu. Với chương trình “tạo” thanh khoản, chính phủ bắt đầu mua trái phiếu doanh nghiệp và thương phiếu thông qua một quỹ trị giá 20 nghìn tỷ won. Họ cũng tăng gấp đôi quy mô của chương trình mua trái phiếu do nhà nước điều hành lên 16 nghìn tỷ won.

Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng biện pháp này là không đủ để ổn định thị trường, khi mà điều kiện cho vay trở nên quá khắt khe. Bên Nomura cho biết các biện pháp chính sách hiện tại sẽ chỉ mang lại sự trợ giúp hạn chế trong ngắn hạn; và không thể giải quyết những rủi ro tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng tín dụng trên toàn hệ thống. Ngoài ra, trong bối cảnh căng thẳng tín dụng gia tăng, Nomura-KRFCI, chỉ số điều kiện tài chính, đã thắt chặt ở mức cao nhất, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Nỗi lo sợ cũng lan rộng ra thị trường trái phiếu nước ngoài, sau khi các công ty bảo hiểm nhân thọ như Heungkuk Life Insurance và DB Life Insurance cho biết họ sẽ không hoàn trả trái phiếu vĩnh viễn (perpetual bond) bằng đô la Mỹ vào ngày giao dịch dự kiến, với lý do điều kiện thị trường không thuận lợi. Trái phiếu vĩnh viễn là trái phiếu không có ngày đáo hạn, nhưng thị trường coi thông báo trên như một dấu hiệu cảnh báo bởi vì các công ty phát hành thường mua lại trái phiếu vĩnh viễn vào các ngày giao dịch.

Nhưng sau đó, Heungkuk và DB đã thay đổi quyết định; với sự hỗ trợ từ các công ty mẹ và chính quyền địa phương khi Cơ quan quản lý thúc đẩy họ đưa tay ra giúp đỡ hai công ty này. Pramod Shenoi, giám đốc của Asia-Pacific cho rằng hành động này khá bất thường. Biết rằng, chủ trương của họ là để ổn định thị giá đồng Won; nhưng họ đang không sáng suốt khi việc này đã dẫn đến một đợt tăng giá của trái phiếu. Và, các biện pháp can thiệp này của chính phủ cũng có thể khiến các công ty gặp rắc rối về mặt pháp lý. Luật pháp Hàn quy định rằng tổ chức phát hành cũng không được phép hủy bỏ thông báo mua lại một cách hợp pháp khi nó đã được phát hành và một số nhà đầu tư đang xem xét hành động pháp lý chống lại Heungkuk Life.

Các nhà đầu tư đang lo tính liệu vấn để của trái phiếu doanh nghiệp có tràn sang thị trường chứng khoán và ngoại hối hay không. Cho đến nay, thị trường chứng khoán đã chống chọi được với cuộc khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp, với chỉ số KOSPI tăng hơn 14% kể từ cuối tháng 9. Đồng won cũng đã tăng 7,4% so với đồng đô la trong cùng thời gian.

Tuy nhiên, phí bảo hiểm hoán đổi nợ tín dụng đối với trái phiếu chính phủ Hàn Quốc kỳ hạn 5 năm - một chỉ báo cho rủi ro vỡ nợ, đã tăng mạnh trong vài tháng qua. Nó đã tăng hơn gấp đôi lên 74,98 vào ngày 3 tháng 11 từ 32,73 hai tháng trước, đạt mức cao nhất trong năm năm, theo dữ liệu của S&P Global Market Intelligence.

Vẫn có nhiều nhà kinh tế thì cho rằng nền kinh tế Hàn Quốc đủ mạnh để chống đỡ cuộc khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp. Như Oh Suk-tae, nhà kinh tế cấp cao tại Societe Generale, nói về cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-98, cho rằng: “Sẽ không có ý nghĩa nếu so sánh tình hình hiện tại với cuộc khủng hoảng ngoại hối trong quá khứ. Chứng khoán tăng và tỷ giá hối đoái ổn định. Thị trường đang thử nghiệm Hàn Quốc giống như họ đã làm với Vương quốc Anh gần đây."
Ông Oh nói rằng BOK nắm giữ chìa khóa để giải quyết cuộc khủng hoảng, vì ngân hàng trung ương có thể làm chậm chu kỳ tăng lãi suất để ngăn lợi suất trái phiếu tăng thêm. Ông Oh dự kiến ngân hàng trung ương sẽ quyết định tăng lãi suất chủ chốt thêm một phần tư điểm phần trăm tại cuộc họp tiếp theo vào ngày 24 tháng 11, thay vì nửa điểm phần trăm, để ổn định thị trường trái phiếu.

NGUỒN: NIKKEI ASIA
DỊCH: HƯƠNG THẢO

CUỘC KHỦNG KHOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á (7/1997- 12/1998)Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Thái Lan vào T7/1997, lan rộng ...
11/11/2022

CUỘC KHỦNG KHOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á (7/1997- 12/1998)

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Thái Lan vào T7/1997, lan rộng khắp Đông Á; tàn phá các nền kinh tế trong khu vực rồi đến Mỹ Latinh và Đông Âu vào năm 1998.
Vào ngày 2/7/1997, đồng Bạt đã mất giá so với đồng đô la Mỹ. Việc này đã kéo dài và làm cạn kiệt đáng kể dự trữ ngoại hối của Thái Lan, dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính mạnh trên khắp Đông Á.

Trong những tháng tiếp theo, thị trường tài chính của Thái Lan kiệt quệ và phát triển thành cuộc khủng hoảng kép bao gồm 2 yếu tố là cán cân thanh toán và ngân hàng. Malaysia, Philippines và Indonesia cũng buông tỷ giá đáng kể khi phải đối mặt với áp lực chung. Đặc biệt, Indonesia dần rơi vào khủng hoảng về cả tài chính và chính trị.
Ngoài ra, Hồng Kông cũng đối mặt với “nạn" đầu cơ tỷ giá, nhưng may mắn là chính phủ đã kịp thời ngăn cản điều này. Tuy nhiên, đây cũng là ngòi nổ cho phe “short" trên toàn cầu.

Không thể không nhắc đến Hàn Quốc - con rồng Châu Á giai đoạn này, áp lực căng thẳng cán cân thanh toán đã đưa đất nước này đến bờ vực vỡ nợ. Nhìn chung, tại Đông Á, dòng vốn gần như đứng lại cũng như tăng trưởng chậm. Các ngân hàng chịu áp lực lớn, tỷ lệ đầu tư giảm và thậm chí một số nước châu Á bước vào suy thoái, ảnh hưởng mạnh tới các đối tác thương mại toàn cầu.

Chuỗi sự kiện này được biết đến với tên gọi khủng hoảng tài chính châu Á và giáng một đòn knockout bất ngờ vào những nhà đầu tư, cũng như các nhà hoạch định chính sách. Trước khi “sự cố" nổ ra, Thái Lan đã phát ra những tín hiệu bất ổn, mặc cho quốc gia này được xem là có nhiều thế mạnh. Có thể thấy, các Quốc gia dính đòn mạnh nhất lại là các “ngôi sao” đang nổi. Các chính sách tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp, cũng như việc cẩn trọng quản lý ngân sách và CSTT đã chuyển dần thành đầu tư với tỷ lệ cao, nhằm hỗ trợ tốc độ tăng trưởng GDP (với mục tiêu 5%, nhưng thường đạt tận 10%).

Tuy nhiên, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lộ ra, sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nền kinh tế này đã che đi các lỗ hổng lớn. Nhiều năm tăng trưởng tín dụng nóng và giám sát không chặt chẽ đã dẫn đến việc sử dụng đòn bẩy có phần bừa bãi và các khoản nợ xấu. Tăng trưởng nóng trong nhiều cầu phần kinh tế, đặc biệt là thị trường bất động sản đã làm gia tăng rủi ro, như sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, điều này được phản ánh qua việc tăng thâm hụt tài khoản vãng lai và gia tăng nợ Quốc tế. Thường các khoản nợ nước ngoài rất lớn, kỳ hạn ngắn, khó thương lượng kéo dài thời gian trả nợ nên các Ngân hàng, Tập đoàn đã đối diện trực tiếp với rủi ro lỗ tỷ giá. Hay có thể hiểu, các khoản nợ đó nếu tính bằng đồng nội tệ tăng lên, khiến cả nền kinh tế lao đao, thậm chí mất khả năng thanh toán. Thực tế đã chứng minh căng thẳng thanh khoản sẽ dẫn đến đồng vốn ngoại rút ra, và điều này sẽ còn tệ hơn khi chúng lặp lại thành một vòng tròn không lối thoát.

Trong giai đoạn này, tình hình kinh tế yếu ớt của Nhật Bản cũng là một tác nhân. Với các ngân hàng Nhật Bản, tín dụng chủ yếu đến từ hoạt động cho vay trong khu vực. Trước những áp lực này, can thiệp ngoại hối thường phản tác dụng. Họ sẽ cạn kiệt phần lớn dự trữ ngoại hối và chịu đựng nguy cơ phá sản sau đó.

Để chặn cơn sóng thần này, cộng đồng quốc tế đã huy động các khoản vay lớn với giá trị lên tới 118 tỷ đô la cho Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc, cũng như thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ (như tái cấu trúc khoản vay ngắn hạn sang trung dài hạn) giúp ổn định các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề. Mục tiêu hàng đầu là giúp các quốc gia này xây lại dự trữ ngoại hối; sau đó là điều chỉnh chính sách - khôi phục niềm tin nhằm ổn định các nền kinh tế, đồng thời giảm tác động đến các “chủ nợ” Quốc tế của họ.

Sau khủng hoảng, các Quốc gia buộc phải tái cấu trúc, và họ đã phải kết hợp rất nhiều các chính sách vừa nhu vừa cương, vừa loại bỏ thẳng, vừa hỗ trợ cải thiện phần yếu kém. Về Vĩ mô, các Quốc gia đã kết hợp tăng lãi suất, và CSTK thắt chặt. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi nền kinh tế bắt đầu ổn định, hầu hết các NHNN chọn phương pháp kết hợp chính sách tài khóa mở rộng, đồng thời giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng.

Trong cuộc khủng hoảng này, vẫn có những Quốc gia được hưởng lợi từ một vài khía cạnh. Ví dụ như Mỹ, tác động thương mại là có, nhưng kiểm soát được; và được bù bằng việc giảm áp lực lạm phát (từ việc nhập khẩu ở châu Á rẻ hơn và giá cả hàng hóa toàn cầu yếu hơn); cũng như lợi suất trái phiếu thấp hơn.

Nguồn: Federal reserve history
Dịch: Ngọc Yên & Hương Thảo
Zalo tư vấn: 0963.825.107 (Ngọc Yên)
Room trao đổi: https://zalo.me/g/lzqcbw073

NGÀNH ĐIỆN CUỐI NĂM 2022 – LIỆU CÓ CÒN TIỀM NĂNG?(PHẦN 2) Sau phần 1 nói về Ngành Nhiệt điện khí và nhiệt điện than tron...
21/10/2022

NGÀNH ĐIỆN CUỐI NĂM 2022 – LIỆU CÓ CÒN TIỀM NĂNG?
(PHẦN 2)
Sau phần 1 nói về Ngành Nhiệt điện khí và nhiệt điện than trong phần 2 mình sẽ nói tiến về ngành Thủy điện và Điện năng lượng tái tạo.

3. THỦY ĐIỆN
3.1 Chuỗi giá trị
(ảnh 2)
3.2 Đầu vào
- Việt Nam với số lượng sông phân bổ khắp đất nước tuy nhiên hai phần ba nguồn nước trên lưu vực sông của VN xuất phát từ nước ngoài. Hiện nay các nước thượng nguồn đã và đang xây dựng nhiều công trình thủy điện gây tình trạng nguồn nước chảy vào Việt Nam ngày càng suy giảm và tăng sự phụ thuộc.

- Bên cạnh đó, ngành thủy điện còn chịu sự tác động lớn bởi yếu tố thời tiết. Theo dự báo của Tổng cục khí tượng thủy văn, khả năng LaNina tiếp tục duy trì đến hết năm 2022 với xác xuất khoảng 55-65%. Nếu kịch bản này xảy ra, các nhà máy thủy điện nhiều khả năng sẽ tiếp tục được hưởng lợi trong giai đoạn cuối năm khi nguồn nước tiếp tục dồi dào.

TUY NHIÊN, tỷ trọng thủy điện cũng sẽ giảm dần vì các dự án thủy điện lớn ở nước ta cơ bản đã khai thác và đưa vào vận hành. Khả năng khai thác các công trình thủy điện còn lại hầu hết là những dự án có công suất nhỏ và đang trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng, hoặc đang xây dựng.

3.3 Các doanh nghiệp sản xuất

Dù đóng góp sản lượng điện ít hơn nhiệt điện than tuy nhiên 6 tháng đầu năm kết quả kinh doanh nhiều doanh nghiệp thủy điện lại tăng trưởng tốt nhờ điều kiện thủy văn tích cực trong khi điện than lại chịu ảnh hưởng từ chi phí đầu vào cao.
- VSH:

(1) Điểm lợi: DT tăng nhờ hưởng lợi từ điều kiện thủy văn thuận lợi. Hơn nữa, việc nhà máy Thượng Kon Tum đi vào hoạt động giúp doanh nghiệp tăng sản lượng.
(2) Bất lợi: Là một doanh nghiệp thủy điện, phụ thuộc phần lớn vào yếu tố thời tiết tuy nhiên sang năm 2023 theo Cơ quan quản lý đại dương và khí quyển Quốc gia Mỹ điều kiện thủy văn có thể kém thuận lợi vào 2023. Khi đó, lợi nhuận năm nay có thể là đỉnh.
Hơn nữa, việc xây dựng nhà máy khiến công ty tăng nợ, chiếm tới 86% => tăng chi phí tài chính

- SBA:
(1) Điểm tốt: DTT quý 3/2022 tăng gấp 2 lần, LNST tăng gấp 3,5 lần so với năm 2021 nhờ hưởng lợi từ điều kiện thời tiết thuận lợi, lưu lượng nước về hồ thủy điện tốt hơn so với 2021.
(2) Bất lợi: chi phí lãi vay của doanh nghiệp chiếm 10% lợi nhuận => áp lực trả nợ trong điều kiện lãi suất tăng

3.4 Khâu tiêu thụ
So với các loại hình phát điện khác, giá bán của nhóm thủy điện đang là thấp nhất với mức giá khoảng 1000-1100 đồng/kw . Đây cũng là một trong những lợi thế, dù trong trường hợp tiêu thụ điện giảm, nhóm thủy điện sẽ được ưu tiên huy động nếu điều kiện thủy văn tốt.
TUY NHIÊN do tính linh hoạt thường không cao do các nhà máy nhiệt điện đòi hỏi quãng thời gian nhất định để khởi động và vận hành với hiệu suất cao.

4. NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
4.1 Chuỗi giá trị
(ảnh 3)
4.2 Nguyên liệu đầu vào

- Điện mặt trời: Khi năng lượng mặt trời sử dụng các tấm pin quang điện có hiệu suất từ 15 – 20% để thực hiện việc chuyển đổi ánh nắng mặt trời thành điện năng. Tuy nhiên hiện nay, phần lớn pin năng lượng mặt trời là nhập khẩu và chi phí giá vốn để lắp một hệ thống điện mặt trời rất cao
+ Do vị trí địa lý của nước ta trải dài, bám dọc kinh tuyến cố định nên thời điểm mặt trời chiếu sáng là đồng thời => toàn bộ điện mặt trời tại VN sẽ cũng lên, xuống chứ ko thể tận dụng các mũi giờ như Mỹ và CÂ
+ Hệ thống điện Việt Nam chưa có nguồn điện tích năng, pin lưu trữ nên khó hấp thụ được các nguồn điện mặt trời với tỷ trọng cao do điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết.

- Điện gió: dựa vào các tua-bin gió có thể chuyển đổi lượng gió thổi vào cánh quay thành năng lượng điện. Sử dụng năng lượng gió vừa tận dụng nguồn TNTN vừa thân thiện với môi trường.
TUY NHIÊN, với các dự án trên bờ chi phí liên quan đến bồi thường, đền bù và giải phóng mặt bằng vẫn là những vấn đề còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi các dự án ngoài khơi lại có thủ tục giao khu vực biển phức tạp. Ngoài ra, công tác vận chuyển thiết bị vật tự, thiết bị gió đến công trường đều là những loại siêu trường, khó khăn trong việc di chuyển.

4.3 Các doanh nghiệp sản xuất
- Điện mặt trời:
+ GEG:
(1) Điểm lợi: Các dự án điện mặt trời của GEG có vị trí thuận lợi + suất đầu tư thấp (là mức CP cần thiết để đầu tư XD)
=> Giúp ổn định đầu ra và CP thấp do CPKH là CP lớn nhất khi vận hành nhà máy điện mặt trời
(2) Bất lợi: tỷ lệ nợ cao trong điều kiện lãi suất tăng => ảnh hưởng tới CPTC của DN, hiện tại CPTC chiếm tới 50% LNG của doanh nghiệp

+ HDG:
(1) Điểm lợi: Doanh thu từ mảng điện đóng góp chủ yếu vào DT và LN của doanh nghiệp trong năm nay khi các nhà máy điện mới đi vào vận hành
(2) Bất lợi: Công suất từ mảng điện mặt trời chỉ chiếm chưa đến 20% tổng công suất => đóng góp ko nhiều vào doanh thu mảng điện
Ngoài ra, việc chậm trễ trong ban hành Quy hoạch điện VIII, cơ chế giá điện
=> ảnh hưởng đến chiến lược phát triển ngành điện của HDG.
Lãi suất cho vay tăng => áp lực lên chi phí lãi vay

- Điện gió:
+ GEG:
(1) Điểm lợi: Có 3 dự án điện gió với tổng công suất 130MW đã kịp vận hành trước tháng 11/2021 để hưởng cơ chế giá ưu đãi.
Ngoài ra, GEG cũng đang có kế hoạch triển khai thêm 2 dự án nữa với công suất 130 MW
=> đưa mảng điện gió trở thành mảng chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhất (hơn 50%)
(2) Bất lợi: Tỷ lệ nợ vay trên tổng tài sản của GEG hiện tại đang khá cao (52%) và GEG sẽ phải tiếp tục huy động một lượng lớn vốn vay để thực hiện các dự án điện gió
=> Lãi suất các khoản vay của GEG phần lớn là lãi suất thả nổi => trong xu hướng lãi suất tăng sẽ ảnh hưởng ko nhỏ tới CPTC của công ty

+ PC1:
(1) Điểm lợi: Hoàn thành cụm 3 nhà máy điện gió mới vừa kịp hưởng giá FIT ưu đãi + kí kết hợp đồng tổng thầu EPC nhà máy điện
(2) Bất lợi: DTT và LNST giảm mạnh nguyên nhân do DT và LN mảng xây lắp giảm mạnh.
DT từ mảng bán điện vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu
Hơn nữa, CPTC tăng mạnh sau khi 3 dự án điện gió đi vào hoạt động => phát sinh chi phí lãi vay

4.4 Khâu tiêu thụ
- Một trong những khó khăn nhất của điện NLTT là theo dự thảo quy hoạch điện VIII sẽ không bổ sung điện mặt trời và điện gió nay đến 2030, còn sau 2030 vẫn được sử dụng tiếp nhưng ko được hòa lưới điện quốc gia mà ưu tiên tự sản xuất.
- Về ngắn hạn, cơ chế giá điện mới cho điện gió và điện mặt trời sau thời điểm ngày 30/10/2021 hiện tại chưa được ban hành. Cơ chế giá điện ưu đãi (FiT) sẽ được bãi bỏ và thay bằng cơ chế giá mới (có thể là cơ chế đấu thầu và/hoặc thỏa thuận trực tiếp với EVN). Dự kiến giá điện mới có thể giảm từ 20%-30% so với giá FiT năm 2021
- Hơn nữa, các dự án điện NLTT vẫn chưa đi vào hoạt động nhiều, nhiều trường hợp còn khó khăn trong quá trình xin giấy phép hoặc rơi vào giai đoạn khó khăn trong việc tìm NĐT
- Ngoài ra, điện NLTT còn có nguy cơ cắt giảm. Nguyên nhân do nguồn phát từ NLTT có công suất chiếm 25% nhưng sản lượng điện phát chỉ chiếm 12% tổng sản lượng. Để ưu tiên nguồn NLTT mà trong 4 tháng đầu năm 2021 các nhà máy nhiệt điện phải tắt đi khởi động lại 334 lần trong khi năm 2019 và năm 2020 con số này chỉ đạt lần lượt 74 lần và 192 lần.

NGỌC YÊN - TINH HOA ĐẦU TƯ
Zalo tư vấn miễn phí: 0963825107
Nhóm Zalo: https://zalo.me/g/lzqcbw073

NGÀNH ĐIỆN CUỐI NĂM 2022 – LIỆU CÓ CÒN TIỀM NĂNG?(PHẦN 1)Dạo này thấy anh em ít nhắc đến ngành điện nên hôm nay mình xin...
19/10/2022

NGÀNH ĐIỆN CUỐI NĂM 2022 – LIỆU CÓ CÒN TIỀM NĂNG?
(PHẦN 1)
Dạo này thấy anh em ít nhắc đến ngành điện nên hôm nay mình xin phép được viết về ngành này để mọi người cập nhật chút tình hình.

A. Phân loại các nhóm ngành điện (CẬP NHẬT SỐ LIỆU ĐẾN T8/2022)
- Nhiệt điện khí: chiếm 10,8% tỷ trọng
- Nhiệt điện than: chiếm 39,4% tỷ trọng
- Thủy điện: chiếm 34,8% tỷ trọng
- Năng lượng tái tạo: chiếm 13,7% % tỷ trọng
- Điện nhập khẩu: 1% tỷ trọng

B. Chi tiết từng nhóm ngành

1. 1. NHIỆT ĐIỆN KHÍ
1.1 CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH
(ẢNH 2)
1.2 ĐẦU VÀO
- LNG: có khả năng đạt hơn 90% hệ số công suất khi cần thiết, không gặp phải tình trạng gián đoạn hay phải phụ thuộc vào thiên nhiên như điện gió hay điện mặt trời. Hơn nữa, điện khí cũng sẽ giảm tác động lên môi trường hơn so với điện than

TUY NHIÊN, việc sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng cũng gặp không ít khó khăn trong tiến độ thực hiện các dự án (theo EVN hiện có hơn 50 dự án điện khí đang được nghiên cứu xây dựng nhưng chưa có dự án nào được khởi công xây dựng). Hơn nữa, công nghệ vận hành và thiết bị xây dựng cũng phức tạp, tàu vận tải yêu cầu công suất lớn, phải có cảng nước sâu tiếp nhận.

- Khí tự nhiên: khí tự nhiên chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí NVL đầu vào của nhiều doanh nghiệp vì vậy biến động của giá khí thế giới ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí giá vốn của doanh nghiệp khi giá khí VN được neo theo giá dầu Singapore và biến động cùng chiều với giá dầu Brent. Mặc dù giá khí hiện nay vẫn cao hơn với với thời điểm đầu năm và năm 2021 nhưng đã giảm 50% so với thời điểm đạt đỉnh.
- Hiện nay khả năng cung cấp khí của PVN ngày càng suy giảm sản lượng, điển hình một số mỏ khí đang trong tình trạng báo động như mỏ Bạch Hổ - mỏ chủ lực của ngành dầu, mỏ Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen,...
=> Chính bởi tình trạng thiếu hụt cung đầu vào nên việc nhập khẩu LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng) của nước ta là điều tất yếu.

1.3 CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Sau khi khai thác khí và dầu thô thành phẩm sẽ được đưa vào nhà máy sản xuất điện như Phú Mỹ, Nhơn Trạch 2 với các chủ đầu tư hàng đầu như PVT, EVN,..
- NT2:
(1) Điểm tốt: Có nguồn cung đầu vào ổn định khi kí hợp đồng mua bán khí dài hạn với PVGas và Tập đoàn điện lực Việt Nam, với giá điện được tính trên cơ sở giá đầu vào.
(2) Bất lợi: Chi phí NVL đầu vào chiếm 70% giá thành sản xuất, trong đó phần lớn là khí tự nhiên (GAS) => chịu ảnh hưởng từ biến động giá dầu khí trên thế giới

- POW:
(1) Điểm tốt: PV Power thực hiện chiến lược tập trung phát triển điện khí sử dụng LNG với các dự án nhà máy Nhơn Trạch 3 và 4.
(2) Bất lợi: Bất lợi kép từ việc suy giảm sản lượng, cùng giá nguyên liệu đầu vào tăng lũy kế 6 tháng đầu năm DT và LNST của POW giảm lần lượt 7% và 3%.

1.4 KHÂU TIÊU THỤ
Trong khâu tiêu thụ, EVN chiếm vị trí độc quyền trong khâu truyền tải điện. Chi phí sản xuất và giá bán điện bình quân tăng nhưng EVN cho biết vẫn kiến nghị chưa tăng giá điện, điều này khiến lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp trong ngành bị ảnh hưởng.

2. NHIỆT ĐIỆN THAN
2.1 Chuỗi giá trị
(ẢNH 3)
2.2 Đầu vào
- Than trong nước: VN là nước có tiềm năng lớn về tài nguyên than, chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn,...

TUY NHIÊN, hiện nay than nội địa không đủ để đáp ứng như cầu sử dụng trong nước => Vinacomin đã làm việc với các đối tác ở Nga, Indo, Nga, Úc, Malaysia và Ukraine để nhập than phục vụ cho ngành điện.
HIỆN NAY, than nhập khẩu chiếm tới gần 50% lượng than sử dụng trong sản xuất. =>Sự biến động của giá than thế giới sẽ tác động tới chi phí sản xuất của các doanh nghiệp. Tính đến thời điểm hiện tại, giá than vẫn đang cao gấp 2 lần so với thời điểm đầu năm cũng như năm ngoái do ảnh hưởng từ cuộc xung đột chính trị của Nga và Ukraine kéo dài.

2.2 Các doanh nghiệp sản xuất
- Ngành điện than Việt Nam trong quý II/2022 chỉ đạt một mức tăng tương đối khiêm tốn so với các doanh nghiệp khác trong ngành sản xuất điện (từ 35 - 50% so với cùng kỳ), thậm chí, Nhiệt điện Phả Lại (PPC - HOSE) còn tăng trưởng âm 27,8% vì máy phát điện S6 chưa thể đi vào vận hành trở lại.

- QTP:
(1) Điểm tốt: Công ty kí hợp đồng cung cấp than dài hạn với TKV và tổng công ty Đông Bắc với mức giá thấp hơn nhiều nhà máy nhiệt điện than khác => giúp giảm giá thành đầu vào
(2) Bất lợi: Công ty có khoản nợ chiếm gần 60% tổng NPT, trong đó phần lớn là khoản vay ngoại tệ nhận nợ lại khoản vay giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc =>
=> Trong điều kiện tỷ giá USD/VND tăng như hiện nay sẽ tác động không nhỏ tới chi phí tài chính của doanh nghiệp.

2.3 Khâu tiêu thụ
Theo Quyết định của Bộ công thương, mức trần khung giá phát điện năm 2022 tăng 1,43 lần so với năm 2021 tuy nhiên vẫn chưa thực sự tương xứng với chi phí đầu vào. Kết quả là EVN ghi nhận khoản lỗ hơn 16k5 tỷ trong 6 tháng đầu năm chủ yếu do giá nhiên liệu như than, dầu, khí,... leo thang khiến chi phí sản xuất điện của tập đoàn tăng cao.

(còn tiếp)

NGỌC YÊN - TINH HOA ĐẦU TƯ
Zalo tư vấn miễn phí: 0963825107
Nhóm Zalo: https://zalo.me/g/lzqcbw073

MỘT VÀI KIẾN THỨC CƠ BẢN: MARGIN CALL1. Margin là gìMargin hay đòn bẩy tài chính, là việc nhà đầu tư vay tiền của CTCK đ...
04/10/2022

MỘT VÀI KIẾN THỨC CƠ BẢN: MARGIN CALL

1. Margin là gì
Margin hay đòn bẩy tài chính, là việc nhà đầu tư vay tiền của CTCK để giao dịch đầu tư
Hiểu đơn giản: Giờ anh chị có 100 triệu, anh chị được công ty chứng khoán cho vay với tỷ lệ 50% thì khi đó tài sản của anh chị sẽ là 200 triệu

2. Lợi ích và bất lợi của việc sử dụng Margin
- Có thể mua số lượng cổ phiếu nhiều hơn so với số tiền có. Trong trường hợp giá cổ phiếu tăng cao hơn so với lãi suất vay Margin tạo cơ hội gia tăng lợi nhuận cho NĐT
(Ví dụ chi tiết ảnh 2)

- Tuy nhiên, trường hợp giá cổ phiếu giảm, NĐT sẽ phải chịu lỗ nặng hơn khi sử dụng đòn bẩy
Em vẫn tiếp tục với VD trên nhé (ảnh 3)

3. Call margin là gì? Khi nào bị Call Margin
Call margin là một thông báo từ CTCK đến NĐT yêu cầu nộp thêm tiền vào tài khoản để duy trì tỷ lệ kí quỹ ở mức an toàn.

Vẫn tiếp tục với ví dụ trên, nhưng CP giảm 50% và NĐT vẫn chưa bán khi đó TTS của NĐT trc khi trừ đi chi phí: 60 = 120 * 50%
Sau khi trừ đi chi phí TTS sẽ là 37,6 = 60 – 20 – 20*12%
=> Tỷ lệ kí quỹ khi đó: 31,3% = 37,6/120

=> Như vậy khi đó, tỷ lệ kí quỹ của NĐT thấp hơn so với CTCK yêu cầu và CTCK sẽ thông báo để NĐT nộp thêm tiền hoặc bán CP để duy trì tỷ lệ theo yêu cầu. Nếu sau thời điểm nhận thông báo NĐT vẫn chưa đưa về tỷ lệ an toàn CTCK sẽ đem bán số CP đó (hay còn gọi là Force Sell – bán giải chấp)

4. Những lưu ý cho NĐT để ko bị Call margin
- Ưu tiên cơ cấu những mã yếu hơn, ko có cơ hội phục hồi
- Không mua vào bằng margin khi cổ phiếu giảm mạnh
- Và chỉ nên sử dụng Margin khi đã có kinh nghiệm, nếu chưa hiểu rõ về margin thì không nên sử dụng tránh trường hợp lỗ lại càng thêm lỗ.

NGỌC YÊN - TINH HOA ĐẦU TƯ
Zalo tư vấn miễn phí: 0963825107
Nhóm Zalo: https://zalo.me/g/lzqcbw073

CREDIT SUISSE PHÁ SẢN?(Chuyên mục góp zui)Cụm từ “Credit Suisse phá sản” đang nằm trên top trending của Google cũng như ...
03/10/2022

CREDIT SUISSE PHÁ SẢN?

(Chuyên mục góp zui)

Cụm từ “Credit Suisse phá sản” đang nằm trên top trending của Google cũng như các trang mạng xã hội khác. Vì vậy, mình viết bài này để mô tả tổng quan vụ việc cũng như chia sẻ một số quan điểm cá nhân.

1. Chuyện gì đang diễn ra?
Giá CDS của Credit Suisse (CS) lên cao chưa từng thấy kể từ giai đoạn 2008-2009. CDS hiểu đơn giản là một loại bảo hiểm dùng để phòng vệ rủi ro vỡ nợ (đọc thêm tại https://www.facebook.com/photo/?fbid=4429302193856260&set=gm.587453829189021&idorvanity=295524228381984)

Chính vì CDS tăng cao => nhà đầu tư nghi ngờ liệu có phải Credit Suisse sắp phá sản hay không?. Họ sợ khủng hoảng 2008 diễn ra một lần nữa.

2. Tình hình thực tế của CS ra sao?
Nhìn chung, CS đã có 3 quý thua lỗ liên tiếp, trong khi đa phần các bank có mô hình kinh doanh tương tự, quy mô tương tự đang lãi. Vì sao? Dưới đây mình sẽ chỉ đưa ra các ý mà mình thấy nên lưu tâm:

Đầu tiên, trong BCTC từ quý 3/21 đến nay của CS, có thể nhận ra họ ghi nhận doanh thu rất lớn tại Investment Bank, nhưng LNTT mảng này lại âm.

- Trích lập dự phòng lớn do case của Archegos.
Tóm tắt lại case: Bill Hwang thành lập 1 cái private family office tên Archegos (cty quản lý tài sản cho các cá nhân siêu giàu). Xong ông này tham gia vào hợp đồng hoán đổi tổng lợi nhuận (Total Return Swap Contract - kiểu 2 bên trao đổi dòng lợi nhuận, Ví dụ: A và B tham gia vào một hợp đồng hoán đổi tổng lợi tức kì hạn 1 năm, trong đó A nhận lãi suất LIBOR + (chênh lệch cố định), còn B nhận tổng mức sinh lời của chỉ số VNINDEX). Và trong loại hợp đồng này, CS có thể cho Archegos vay nợ với tỷ lệ đòn bảy siêu cao để mua cổ phiếu của Discovery và Viacom CBS. => Cổ phiếu tăng thì tỷ suất sinh lời tốt, cổ phiếu xuống giá là margin call.
Và rồi, té ra là không chỉ CS cho Archegos vay mà còn cả Nomura, Morgan Stanley, Goldman Sachs,...

=> Bill Hwang không có tiền nộp vào tất cả các tổ chức trên => Cổ phiếu bị force sell, bán lượng lớn, giảm mạnh => Bill Hwang càng không có tiền trả nợ => Các tổ chức cho Archegos vay lỗ, CS lỗ nhiều nhất.

=> Khoản trích lập dự phòng rủi ro của CS rất cao.

- Lằng nhằng kiện tụng với Greensill Capital
Tóm tắt lại case: Greensill (GS) có những khách hàng cần trả tiền cho nhà cung cấp để lấy hàng đúng hạn. Các nhà cung cấp này xuất hóa đơn, GS mua lại với giá discount => các NCC được trả tiền đúng hạn, khách hàng của GS có thời gian thu xếp trả sau, còn GS ăn chênh lệch.
Sau đó, GS đóng gói đống hóa đơn kia lại rối chứng khoán hóa chúng, bán cho CS; CS phân phối cho nhà đầu tư. => Phải có bảo hiểm do rủi ro cao.
Năm 2020-2021, nhiều DN không trả được nợ nên là GS bị điều tra => GS có những hạch toán bất thường và chủ yếu chỉ dựa vào 1 khách hàng - GUPTA. => Bảo hiểm không đồng ý, và GS cũng không ký hợp đồng bảo hiểm mới. => CS nghi ngờ và đóng băng quỹ đầu tư => GUPTA quyết định không trả tiền cho GS. => Kiện tụng.

=> CS có vấn đề lớn trong quản trị rủi ro.

Thứ hai, ngân hàng này đang bị cáo buộc xử lý các khoản tiền “bẩn” trong suốt nhiều thập kỷ.
VD: vụ bê bối “nợ ẩn” của Mozambique bắt nguồn từ các khoản vay cho ba doanh nghiệp trong năm 2013 và 2014 để tài trợ cho một dự án đánh bắt cá ngừ. Một cuộc kiểm toán độc lập đã phát hiện 500 triệu USD trong số tiền 2 tỷ USD mà ba doanh nghiệp đã vay từ Credit Suisse và ngân hàng Nga VTB cùng những tổ chức tín dụng khác, đã bị thất thoát và không được đưa vào sổ sách. => Case này thì nộp phạt dàn xếp. Các case lớn hơn thì chưa biết được vì chưa có công bố.

Thứ ba, khoản đầu tư cùng Allfunds. Allfunds là một nền tảng công nghệ, cho phép nhà đầu tư tiếp cận được với nhiều quỹ trên toàn thế giới (https://allfunds.com/de/). Ý tưởng rất hay nhưng đến hiện tại, biên lợi nhuận thấp, chưa tạo ra hiệu quả.

Thứ tư, đòn bảy cao. TTS/VCSH của CS gần 16, Lehman ngày trước khi đổ xuống loanh quanh 24. Nhìn chung 16 là mốc cao hơn so với nhiều bank khác cùng mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, hệ số an toàn vẫn giữ được trên mốc tối thiểu nê thanh khoản chưa căng đét như giai đoạn 2008.

3. Quan điểm của mình
27/10 này họ công bố chiến lược mới nên mọi suy luận gần như chỉ là đoán mò. Cá nhân mình thấy đúng là CS gặp khó khăn rồi, khả năng sắp tới sẽ tái cấu trúc, bán các mảng không tạo ra lợi nhuận.
Nhưng nguy cơ phá sản thấp là vì ngoại trừ mảng Investment Bank, thì mảng quản lý tài sản, mảng ngân hàng truyền thống không có vấn đề gì lớn (hoặc chưa đọc ra) .
Hai là tình thế khác Lehman Brothers. Lehman sập là do các tài sản thế chấp, trong một bối cảnh nền kinh tế chung còn tệ hơn hiện tại.
Về vấn đề giá CDS tăng thì khả năng do đầu cơ theo tình hình không tốt lắm của CS chăng, hoặc ai đó có thông tin nội bộ gì?
Cuối cùng, nếu tình huống xấu nhất xảy ra, NHTW Thụy Sĩ có để CS sập không? Ai cũng biết hệ quả khi một ông lớn gục xuống là thế nào mà :D

Bài viết ngắn để anh chị có cái nhìn tổng quan hơn ^^ Chúc cả nhà buổi tối vui vẻ!

HƯƠNG THẢO

Address

Tòa Nhà N03T1, Khu Ngoại Giao đoàn, Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tinh Hoa Đầu Tư posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tinh Hoa Đầu Tư:

Share