11/11/2022
CUỘC KHỦNG KHOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á (7/1997- 12/1998)
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Thái Lan vào T7/1997, lan rộng khắp Đông Á; tàn phá các nền kinh tế trong khu vực rồi đến Mỹ Latinh và Đông Âu vào năm 1998.
Vào ngày 2/7/1997, đồng Bạt đã mất giá so với đồng đô la Mỹ. Việc này đã kéo dài và làm cạn kiệt đáng kể dự trữ ngoại hối của Thái Lan, dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính mạnh trên khắp Đông Á.
Trong những tháng tiếp theo, thị trường tài chính của Thái Lan kiệt quệ và phát triển thành cuộc khủng hoảng kép bao gồm 2 yếu tố là cán cân thanh toán và ngân hàng. Malaysia, Philippines và Indonesia cũng buông tỷ giá đáng kể khi phải đối mặt với áp lực chung. Đặc biệt, Indonesia dần rơi vào khủng hoảng về cả tài chính và chính trị.
Ngoài ra, Hồng Kông cũng đối mặt với “nạn" đầu cơ tỷ giá, nhưng may mắn là chính phủ đã kịp thời ngăn cản điều này. Tuy nhiên, đây cũng là ngòi nổ cho phe “short" trên toàn cầu.
Không thể không nhắc đến Hàn Quốc - con rồng Châu Á giai đoạn này, áp lực căng thẳng cán cân thanh toán đã đưa đất nước này đến bờ vực vỡ nợ. Nhìn chung, tại Đông Á, dòng vốn gần như đứng lại cũng như tăng trưởng chậm. Các ngân hàng chịu áp lực lớn, tỷ lệ đầu tư giảm và thậm chí một số nước châu Á bước vào suy thoái, ảnh hưởng mạnh tới các đối tác thương mại toàn cầu.
Chuỗi sự kiện này được biết đến với tên gọi khủng hoảng tài chính châu Á và giáng một đòn knockout bất ngờ vào những nhà đầu tư, cũng như các nhà hoạch định chính sách. Trước khi “sự cố" nổ ra, Thái Lan đã phát ra những tín hiệu bất ổn, mặc cho quốc gia này được xem là có nhiều thế mạnh. Có thể thấy, các Quốc gia dính đòn mạnh nhất lại là các “ngôi sao” đang nổi. Các chính sách tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp, cũng như việc cẩn trọng quản lý ngân sách và CSTT đã chuyển dần thành đầu tư với tỷ lệ cao, nhằm hỗ trợ tốc độ tăng trưởng GDP (với mục tiêu 5%, nhưng thường đạt tận 10%).
Tuy nhiên, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lộ ra, sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nền kinh tế này đã che đi các lỗ hổng lớn. Nhiều năm tăng trưởng tín dụng nóng và giám sát không chặt chẽ đã dẫn đến việc sử dụng đòn bẩy có phần bừa bãi và các khoản nợ xấu. Tăng trưởng nóng trong nhiều cầu phần kinh tế, đặc biệt là thị trường bất động sản đã làm gia tăng rủi ro, như sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài, điều này được phản ánh qua việc tăng thâm hụt tài khoản vãng lai và gia tăng nợ Quốc tế. Thường các khoản nợ nước ngoài rất lớn, kỳ hạn ngắn, khó thương lượng kéo dài thời gian trả nợ nên các Ngân hàng, Tập đoàn đã đối diện trực tiếp với rủi ro lỗ tỷ giá. Hay có thể hiểu, các khoản nợ đó nếu tính bằng đồng nội tệ tăng lên, khiến cả nền kinh tế lao đao, thậm chí mất khả năng thanh toán. Thực tế đã chứng minh căng thẳng thanh khoản sẽ dẫn đến đồng vốn ngoại rút ra, và điều này sẽ còn tệ hơn khi chúng lặp lại thành một vòng tròn không lối thoát.
Trong giai đoạn này, tình hình kinh tế yếu ớt của Nhật Bản cũng là một tác nhân. Với các ngân hàng Nhật Bản, tín dụng chủ yếu đến từ hoạt động cho vay trong khu vực. Trước những áp lực này, can thiệp ngoại hối thường phản tác dụng. Họ sẽ cạn kiệt phần lớn dự trữ ngoại hối và chịu đựng nguy cơ phá sản sau đó.
Để chặn cơn sóng thần này, cộng đồng quốc tế đã huy động các khoản vay lớn với giá trị lên tới 118 tỷ đô la cho Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc, cũng như thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ (như tái cấu trúc khoản vay ngắn hạn sang trung dài hạn) giúp ổn định các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề. Mục tiêu hàng đầu là giúp các quốc gia này xây lại dự trữ ngoại hối; sau đó là điều chỉnh chính sách - khôi phục niềm tin nhằm ổn định các nền kinh tế, đồng thời giảm tác động đến các “chủ nợ” Quốc tế của họ.
Sau khủng hoảng, các Quốc gia buộc phải tái cấu trúc, và họ đã phải kết hợp rất nhiều các chính sách vừa nhu vừa cương, vừa loại bỏ thẳng, vừa hỗ trợ cải thiện phần yếu kém. Về Vĩ mô, các Quốc gia đã kết hợp tăng lãi suất, và CSTK thắt chặt. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi nền kinh tế bắt đầu ổn định, hầu hết các NHNN chọn phương pháp kết hợp chính sách tài khóa mở rộng, đồng thời giảm lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng.
Trong cuộc khủng hoảng này, vẫn có những Quốc gia được hưởng lợi từ một vài khía cạnh. Ví dụ như Mỹ, tác động thương mại là có, nhưng kiểm soát được; và được bù bằng việc giảm áp lực lạm phát (từ việc nhập khẩu ở châu Á rẻ hơn và giá cả hàng hóa toàn cầu yếu hơn); cũng như lợi suất trái phiếu thấp hơn.
Nguồn: Federal reserve history
Dịch: Ngọc Yên & Hương Thảo
Zalo tư vấn: 0963.825.107 (Ngọc Yên)
Room trao đổi: https://zalo.me/g/lzqcbw073