10/05/2026
Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:
- Cuộc xung đột tại Trung Đông dù không leo thang quân sự nhưng vẫn khiến tự do hàng hải bế tắc. Kết quả là giá dầu tiếp tục tăng do sự thiếu hụt cung đang làm vơi đi các kho dự trữ chiến lược trên toàn cầu. Nghiên cứu của Goldman Sachs cho rằng, mỗi tháng ách tắc vận tải sẽ khiến giá dầu tăng thêm 15 USD/thùng. JP Morgan cũng đánh giá tốc độ tụt giảm hiện tại sẽ khiến dự trữ xăng dầu toàn cầu tiến về vùng nguy hiểm từ tháng 6 khiến nguồn cung có thể đứt gẫy cục bộ và đẩy giá tăng vọt. Diễn tiến nguồn cung những tuần cuối tháng 5 sẽ rất quan trọng với xu hướng giá dầu sau khi duy trì vùng 90-110USD/thùng đã hơn 2 tháng qua.
- Tuy vậy, lịch sử ngành dầu mỏ cũng lưu truyền một chân lý luôn đúng trong dài hạn: “phương thuốc điều trị giá dầu cao chính là giá dầu cao”. Do giá tăng mạnh, sự suy giảm nhu cầu đang bắt đầu tăng theo gia tốc: giảm 2.8 triệu thùng/ngày trong tháng 3, 4.3 triệu thùng/ngày trong tháng 4 và 5.5 triệu thùng/ngày trong tháng 5. Về phía cung, quyết định của UAE rời OPEC cho thấy nước này có thể chuẩn bị cho việc cung mạnh dầu mỏ ngay khi eo biển được thông thương. Mỹ, Venezuela… và nhiều quốc gia xuất khẩu dầu mỏ cũng đang đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu khi biên lợi nhuận tăng lên vùng cao lịch sử. Giá dầu cao trên 100 USD/thùng như hiện tại là đủ để bắt đầu tác động mạnh lên cả cung và cầu. Những ngành thâm dụng dầu như đang phải chịu thiệt hại nghiêm trọng trong khi các ngành liên quan tới năng lượng thay thế lại đang chứng kiến nhu cầu tăng vọt. Để có thể chờ đợi giá dầu cân bằng và giảm trở lại trong tương lai, các thành phần tham gia trên thị trường đang phải đi qua giai đoạn thanh lọc và tự điều chỉnh với không ít tổn thất và khó khăn trước mắt.
- Một trong những tác động rõ nét nhất của giá dầu tăng là lạm phát đang tăng mạnh trở lại trên toàn cầu. Lạm phát Mỹ đã tăng vọt lên 3.2% và khả năng FED hạ lãi suất trong 2026 gần như không còn. Thậm chí, thị trường đang tin rằng ECB, UK, Canada, Úc, và nhiều quốc gia trong G10 sẽ nâng lãi suất từ tháng 6 để kiềm chế lạm phát. Mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích tăng trên toàn cầu và thị trường trái phiếu đang thể hiện rõ nhất điều đó. Tháng 6 cũng là thời điểm FED có Chủ tịch mới, Kevin Warsh, người muốn giảm quy mô tài sản FED đang nắm giữ nhằm tập trung vào kiểm soát lạm phát và kỳ vọng lạm phát để đưa lãi suất giảm bền vững trong dài hạn. FED sẽ ưu tiên sử dụng công cụ lãi suất thay cho QE để hướng tới lợi ích của nền kinh tế thực và số đông người lao động chứ không chỉ 50% dân số sở hữu tài sản tài chính.
- TTCK Mỹ và toàn cầu có một tháng 4 tích cực khi số liệu việc làm ổn định và một số công ty công nghệ đầu đàn ra báo cáo vượt trội nhờ A.I và công bố mua lại cổ phiếu quỹ. Hiện tại, Wall Streets kỳ vọng các quý còn lại của năm tiếp tục tăng trưởng khoảng 20% y-o-y và điều này khiến TTCK Mỹ duy trì vùng định giá đắt đỏ bất chấp mặt bằng lãi suất sẽ neo cao kéo dài. Tuy vậy, sự phân hóa trong lòng nước Mỹ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Nhóm thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực bởi lãi suất cao khi nợ xấu mua nhà, ô tô, thẻ tín dụng tiếp tục tăng trong khi tài sản tài chính tiếp tục tăng giá và đạt tỷ lệ kỷ lục lịch sử 6,7 lần GDP. Điều tương tự cũng đang diễn ra ở một số TTCK có mức tăng mạnh trong tháng qua khi phần lớn đà tăng được đóng góp bởi số ít những cổ phiếu lớn nhất và thiếu vắng độ rộng và sự gia tăng của thanh khoản.
- Sự phục hồi mạnh của các TTCK sau cú sốc xung đột và giá dầu đã kích thích mạnh mẽ tâm lý đầu cơ của nhà đầu tư cá nhân thể hiện qua mức độ sử dụng kỷ lục các công cụ đòn bẩy tài chính và phái sinh. Các thị trường tài sản biến động rất mạnh với tính chất đầu cơ ngắn hạn cũng khiến nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett thốt lên trong bài trả lời phỏng vấn gần đây rằng ông chưa bao giờ chứng kiến TTCK có tính chất cờ bạc cao như thời điểm hiện tại. Môi trường lạm phát tăng, lãi suất nhích tăng, định giá không còn rẻ và tính đầu cơ cao hứa hẹn một giai đoạn biến động mạnh và rủi ro tăng lên cho các TTCK toàn cầu.
Đối với thị trường Việt Nam, chúng tôi có một số điểm lưu ý:
- Việt Nam tiếp tục những nỗ lực cải cách thể chế và hoàn thiện quy hoạch nhằm thúc đẩy đầu tư hạ tầng. Các biện pháp này được quốc tế đánh giá cao. Ngày 04/05/2026, Moody đã nâng triển vọng dài hạn của Việt Nam từ mức “Ổn định” lên “Tích cực”. Tuy nhiên tổ chức này cũng lưu ý về rủi ro của định mức tín nhiệm khi mức độ đòn bẩy nếu tăng cao ảnh hưởng tới sự ổn định vĩ mô hoặc xung đột căng thẳng trên thế giới có thể làm ảnh hưởng tới sức cạnh tranh và thu hút FDI.
- Trong số nhiều chỉ tiêu vĩ mô 4 tháng đầu năm, chúng tôi nhận thấy xu hướng nhập siêu đang gia tăng vượt 7.1 tỷ USD trong đó riêng khối doanh nghiệp nội địa nhập siêu 15.6 tỷ USD. Ngoài xăng dầu tăng đột biến do giá, Việt Nam còn đang tăng nhập khẩu rất nhanh và nhiều các mặt hàng điện tử và máy móc từ Trung Quốc. Những giải thích cho năm tháng nhập siêu liên tiếp đang là nhu cầu nhập khẩu phục vụ mở rộng FDI và nguyên liệu đầu vào cho tăng xuất khẩu không thực sự thỏa đáng khi lượng nhập siêu tới nhiều từ khối nội địa. Đầu tư hạ tầng và bất động sản vốn cũng cần nhập khẩu 20-40% tổng mức đầu tư có thể đang góp phần vào đà nhập siêu gần đây có thể gây thêm sức ép lên tỷ giá thời gian tới. Lần gần nhất Việt Nam chứng kiến nhập siêu trong 4 tháng đầu năm ở quy mô 10% dự trữ ngoại hối là từ 2010 và 2011.
- Lạm phát tăng mạnh sau hai tháng 3-4 đã vượt lên mức 5.4%, cao hơn mục tiêu được Quốc Hội phê duyệt. Việt Nam đang nỗ lực kích thích đầu tư và đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh giá cả hàng hóa thế giới tăng mạnh. Chúng ta đang ít nhiều chịu áp lực lạm phát do cầu kéo khi mở rộng đầu tư hạ tầng kết hợp tăng trưởng tín dụng cao nay phải chịu thêm áp lực chi phí đẩy do giá dầu và sản phẩm liên quan tăng mạnh. Trong 15 năm qua, rất hiếm khi lạm phát tăng cao hơn lãi suất tái cấp vốn (công cụ để SBV định hướng lãi suất thị trường) như hiện nay. Những lực đẩy cộng hưởng này sẽ khiến áp lực lạm phát trở nên mạnh và dai dẳng hơn, có khả năng trở thành rủi ro tiêu điểm của chính sách tiền tệ và các thị trường tài sản thời gian tới.
- Sau khi thận trọng về tăng trưởng tín dụng của 2026, SBV đã tiếp tục có dự thảo văn bản Thông tư dự kiến thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Chúng tôi cho rằng đây là bước đi quyết liệt nhưng cần thiết của Chính phủ và SBV gửi thông điệp rõ ràng về hệ thống ngân hàng cần khỏe mạnh hơn, bớt phụ thuộc vào các nguồn vốn ngắn hạn của liên ngân hàng và hỗ trợ thanh khoản của SBV. Về dài hạn, khi hệ thống bớt phụ thuộc vốn ngắn hạn và cho vay chéo lẫn nhau, giảm rủi ro thanh khoản và áp lực lên lãi suất. Tuy nhiên, từ nay tới 2028, các ngân hàng sẽ phải đẩy mạnh huy động, giảm tốc độ cho vay để cân đối lại nguồn vốn. Những ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào vốn vay liên ngân hàng, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi sẽ phải chịu ảnh hưởng lớn hơn.
- Chúng tôi cũng theo sát diễn biến quá trình điều tra các đối tác thương mại chủ chốt của Mỹ theo mục 301, trong đó có Việt Nam. Việc ngày 30/4/2026 USTR đặt Việt Nam vào mức cao nhất của khoản mục cần ưu tiên theo dõi (“Priority Foreign Country”) là một bước đi báo trước quá trình đàm phán một thỏa thuận thương mại rất khó khăn. Với thực tế xuất siêu Việt Nam sang Mỹ tăng mạnh cùng chiều với nhập siêu từ Trung Quốc, các doanh nghiệp xuất khẩu vào Mỹ có thể cần sẵn sàng cho một mức thuế cao hơn hiện tại.
- Kết quả kinh doanh quý 1/2026 là rất tích cực khi nhóm phi tài chính tăng trưởng kỷ lục ở mức 77%. Theo đà tăng của VN-Index, định giá tính theo giá trị sổ sách tiệm cận vùng đắt trong khi định giá theo PE đang ở vùng trung tính. Tuy vậy, định giá chung của thị trường đang bị kéo lệch đáng kể bởi một nhóm cổ phiếu Vingroup định giá cao và chiếm tới gần 1/3 vốn hóa toàn thị trường trong khi phần còn lại của thị trường không thu hút được dòng tiền và tiếp tục trở nên rẻ hơn dù KQKD rất tích cực. Điều này đã xảy ra trong Q4 2025 và sự tiếp diễn của nó trong 2026 cho thấy sự suy yếu của dòng tiền đầu tư và tâm lý đầu cơ ngắn hạn đang trở nên phổ biến trên thị trường giai đoạn này. Nếu không chấp nhận đi theo xu hướng rủi ro này, nhà đầu tư sẽ rất khó kiếm lợi nhuận trên thị trường trong 6 tháng qua.
- Về cân đối cung cầu, nhà đầu tư ngoại tiếp tục bán ròng hơn 10k tỷ mỗi tháng trong 4 tháng đầu năm cho dù TTCK Việt Nam đã chính thức được FTSE nâng hạng. Chúng tôi không nhận thấy dòng tiền ngoại rút ròng khỏi các thị trường mới nổi khác và trong khu vực gần đây. Áp lực cung từ phát hành thêm vẫn tiếp tục duy trì trong Q1 và Q2 ở tốc độ tương đương giai đoạn cao điểm Q4 2025 cũng là lý do khiến dòng tiền trên thị trường hao hụt và khan hiếm hơn. Nhu cầu phát hành sẽ tiếp tục duy trì trong năm nay khi TTCK đang nổi lên thành kênh huy động vốn thay thế cho kênh tín dụng vốn đã hết dư địa mở rộng và đang đi vào giai đoạn tái cơ cấu theo thông tư mới.
- Số dư vay nợ margin cũng tăng lên đỉnh cao về số tuyệt đối lẫn tính trên vốn hóa ở cuối Q1/2026 bất chấp lãi suất vay margin đã tăng lên theo mặt bằng lãi suất cho vay chung ngoài nền kinh tế. Rủi ro sẽ thực sự lớn khi những cổ đông lớn và chủ DN đang vay deals tại CTCK cùng gặp khó khăn về dòng tiền với hoạt động kinh doanh cốt lõi (chủ yếu liên quan tới bất động sản), từ đó không có khả năng trả nợ và kích hoạt làn sóng bán giải chấp. Mặt bằng lãi suất cho vay margin và thanh khoản trên thị trường bất động sản sẽ là chỉ báo sớm cần theo dõi của rủi ro này.
- Nhìn về tổng thể, chúng ta đang đứng trước một giai đoạn với nhiều rủi ro vĩ mô tăng lên cả trong và ngoài nước: từ lạm phát bắt đầu tăng mạnh, SBV chủ động siết lại hoạt động cho vay và huy động vốn của hệ thống ngân hàng theo dự thảo thông tư mới, tới rủi ro bị áp một mức thuế mới cao hơn từ Mỹ sau những hoạt động điều tra đang tiến hành trong bối cảnh nhập siêu lớn đang quay trở lại gây áp lực lên dự trữ ngoại hối và ổn định tỷ giá. Ngoài ra, thị trường BĐS đang giao dịch chậm lại trên cả nước dưới sức ép lãi suất trong khi nguồn cung bước vào giai đoạn tăng kỷ lục càng khiến cho tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế chậm lại, quay lại ảnh hưởng tiêu cực lên thanh khoản và lãi suất.
Cho dù Chính phủ đã kịp thời có những quyết sách hướng tới xử lý các gốc rễ gây thiếu hụt thanh khoản toàn hệ thống gần đây, chúng tôi cho rằng sẽ cần thời gian tính bằng nhiều quý để thực sự khắc phục được các mất cân đối hiện nay trong hệ thống ngân hàng từ đó ổn định lại được lãi suất. Trong giai đoạn đó, TTCK sẽ tiếp tục gặp khó về thanh khoản và chịu áp lực chiết khấu về định giá. Khi dòng tiền đầu theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn và vào một nhóm cổ phiếu định giá rất cao, thị trường lại bắt đầu offer cho chúng ta những cơ hội đầu tư các doanh nghiệp có KQKD tích cực với định giá rẻ nhưng bị dòng tiền bỏ qua. Tuy vậy, một cơ hội thực sự lớn với rủi ro thấp sẽ chỉ đến khi những rủi ro lớn được kể tới ở trên được bộc lộ và chiết khấu đầy đủ vào định giá chung toàn thị trường.