SGI Capital

SGI Capital Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư SGI (SGIC) cung cấp dịch vụ Quản lý quỹ

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:- Cuộc xung đột tại Trung Đông dù không leo thang quân sự ...
10/05/2026

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:

- Cuộc xung đột tại Trung Đông dù không leo thang quân sự nhưng vẫn khiến tự do hàng hải bế tắc. Kết quả là giá dầu tiếp tục tăng do sự thiếu hụt cung đang làm vơi đi các kho dự trữ chiến lược trên toàn cầu. Nghiên cứu của Goldman Sachs cho rằng, mỗi tháng ách tắc vận tải sẽ khiến giá dầu tăng thêm 15 USD/thùng. JP Morgan cũng đánh giá tốc độ tụt giảm hiện tại sẽ khiến dự trữ xăng dầu toàn cầu tiến về vùng nguy hiểm từ tháng 6 khiến nguồn cung có thể đứt gẫy cục bộ và đẩy giá tăng vọt. Diễn tiến nguồn cung những tuần cuối tháng 5 sẽ rất quan trọng với xu hướng giá dầu sau khi duy trì vùng 90-110USD/thùng đã hơn 2 tháng qua.
- Tuy vậy, lịch sử ngành dầu mỏ cũng lưu truyền một chân lý luôn đúng trong dài hạn: “phương thuốc điều trị giá dầu cao chính là giá dầu cao”. Do giá tăng mạnh, sự suy giảm nhu cầu đang bắt đầu tăng theo gia tốc: giảm 2.8 triệu thùng/ngày trong tháng 3, 4.3 triệu thùng/ngày trong tháng 4 và 5.5 triệu thùng/ngày trong tháng 5. Về phía cung, quyết định của UAE rời OPEC cho thấy nước này có thể chuẩn bị cho việc cung mạnh dầu mỏ ngay khi eo biển được thông thương. Mỹ, Venezuela… và nhiều quốc gia xuất khẩu dầu mỏ cũng đang đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu khi biên lợi nhuận tăng lên vùng cao lịch sử. Giá dầu cao trên 100 USD/thùng như hiện tại là đủ để bắt đầu tác động mạnh lên cả cung và cầu. Những ngành thâm dụng dầu như đang phải chịu thiệt hại nghiêm trọng trong khi các ngành liên quan tới năng lượng thay thế lại đang chứng kiến nhu cầu tăng vọt. Để có thể chờ đợi giá dầu cân bằng và giảm trở lại trong tương lai, các thành phần tham gia trên thị trường đang phải đi qua giai đoạn thanh lọc và tự điều chỉnh với không ít tổn thất và khó khăn trước mắt.
- Một trong những tác động rõ nét nhất của giá dầu tăng là lạm phát đang tăng mạnh trở lại trên toàn cầu. Lạm phát Mỹ đã tăng vọt lên 3.2% và khả năng FED hạ lãi suất trong 2026 gần như không còn. Thậm chí, thị trường đang tin rằng ECB, UK, Canada, Úc, và nhiều quốc gia trong G10 sẽ nâng lãi suất từ tháng 6 để kiềm chế lạm phát. Mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích tăng trên toàn cầu và thị trường trái phiếu đang thể hiện rõ nhất điều đó. Tháng 6 cũng là thời điểm FED có Chủ tịch mới, Kevin Warsh, người muốn giảm quy mô tài sản FED đang nắm giữ nhằm tập trung vào kiểm soát lạm phát và kỳ vọng lạm phát để đưa lãi suất giảm bền vững trong dài hạn. FED sẽ ưu tiên sử dụng công cụ lãi suất thay cho QE để hướng tới lợi ích của nền kinh tế thực và số đông người lao động chứ không chỉ 50% dân số sở hữu tài sản tài chính.
- TTCK Mỹ và toàn cầu có một tháng 4 tích cực khi số liệu việc làm ổn định và một số công ty công nghệ đầu đàn ra báo cáo vượt trội nhờ A.I và công bố mua lại cổ phiếu quỹ. Hiện tại, Wall Streets kỳ vọng các quý còn lại của năm tiếp tục tăng trưởng khoảng 20% y-o-y và điều này khiến TTCK Mỹ duy trì vùng định giá đắt đỏ bất chấp mặt bằng lãi suất sẽ neo cao kéo dài. Tuy vậy, sự phân hóa trong lòng nước Mỹ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Nhóm thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực bởi lãi suất cao khi nợ xấu mua nhà, ô tô, thẻ tín dụng tiếp tục tăng trong khi tài sản tài chính tiếp tục tăng giá và đạt tỷ lệ kỷ lục lịch sử 6,7 lần GDP. Điều tương tự cũng đang diễn ra ở một số TTCK có mức tăng mạnh trong tháng qua khi phần lớn đà tăng được đóng góp bởi số ít những cổ phiếu lớn nhất và thiếu vắng độ rộng và sự gia tăng của thanh khoản.
- Sự phục hồi mạnh của các TTCK sau cú sốc xung đột và giá dầu đã kích thích mạnh mẽ tâm lý đầu cơ của nhà đầu tư cá nhân thể hiện qua mức độ sử dụng kỷ lục các công cụ đòn bẩy tài chính và phái sinh. Các thị trường tài sản biến động rất mạnh với tính chất đầu cơ ngắn hạn cũng khiến nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett thốt lên trong bài trả lời phỏng vấn gần đây rằng ông chưa bao giờ chứng kiến TTCK có tính chất cờ bạc cao như thời điểm hiện tại. Môi trường lạm phát tăng, lãi suất nhích tăng, định giá không còn rẻ và tính đầu cơ cao hứa hẹn một giai đoạn biến động mạnh và rủi ro tăng lên cho các TTCK toàn cầu.

Đối với thị trường Việt Nam, chúng tôi có một số điểm lưu ý:
- Việt Nam tiếp tục những nỗ lực cải cách thể chế và hoàn thiện quy hoạch nhằm thúc đẩy đầu tư hạ tầng. Các biện pháp này được quốc tế đánh giá cao. Ngày 04/05/2026, Moody đã nâng triển vọng dài hạn của Việt Nam từ mức “Ổn định” lên “Tích cực”. Tuy nhiên tổ chức này cũng lưu ý về rủi ro của định mức tín nhiệm khi mức độ đòn bẩy nếu tăng cao ảnh hưởng tới sự ổn định vĩ mô hoặc xung đột căng thẳng trên thế giới có thể làm ảnh hưởng tới sức cạnh tranh và thu hút FDI.
- Trong số nhiều chỉ tiêu vĩ mô 4 tháng đầu năm, chúng tôi nhận thấy xu hướng nhập siêu đang gia tăng vượt 7.1 tỷ USD trong đó riêng khối doanh nghiệp nội địa nhập siêu 15.6 tỷ USD. Ngoài xăng dầu tăng đột biến do giá, Việt Nam còn đang tăng nhập khẩu rất nhanh và nhiều các mặt hàng điện tử và máy móc từ Trung Quốc. Những giải thích cho năm tháng nhập siêu liên tiếp đang là nhu cầu nhập khẩu phục vụ mở rộng FDI và nguyên liệu đầu vào cho tăng xuất khẩu không thực sự thỏa đáng khi lượng nhập siêu tới nhiều từ khối nội địa. Đầu tư hạ tầng và bất động sản vốn cũng cần nhập khẩu 20-40% tổng mức đầu tư có thể đang góp phần vào đà nhập siêu gần đây có thể gây thêm sức ép lên tỷ giá thời gian tới. Lần gần nhất Việt Nam chứng kiến nhập siêu trong 4 tháng đầu năm ở quy mô 10% dự trữ ngoại hối là từ 2010 và 2011.
- Lạm phát tăng mạnh sau hai tháng 3-4 đã vượt lên mức 5.4%, cao hơn mục tiêu được Quốc Hội phê duyệt. Việt Nam đang nỗ lực kích thích đầu tư và đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh giá cả hàng hóa thế giới tăng mạnh. Chúng ta đang ít nhiều chịu áp lực lạm phát do cầu kéo khi mở rộng đầu tư hạ tầng kết hợp tăng trưởng tín dụng cao nay phải chịu thêm áp lực chi phí đẩy do giá dầu và sản phẩm liên quan tăng mạnh. Trong 15 năm qua, rất hiếm khi lạm phát tăng cao hơn lãi suất tái cấp vốn (công cụ để SBV định hướng lãi suất thị trường) như hiện nay. Những lực đẩy cộng hưởng này sẽ khiến áp lực lạm phát trở nên mạnh và dai dẳng hơn, có khả năng trở thành rủi ro tiêu điểm của chính sách tiền tệ và các thị trường tài sản thời gian tới.
- Sau khi thận trọng về tăng trưởng tín dụng của 2026, SBV đã tiếp tục có dự thảo văn bản Thông tư dự kiến thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Chúng tôi cho rằng đây là bước đi quyết liệt nhưng cần thiết của Chính phủ và SBV gửi thông điệp rõ ràng về hệ thống ngân hàng cần khỏe mạnh hơn, bớt phụ thuộc vào các nguồn vốn ngắn hạn của liên ngân hàng và hỗ trợ thanh khoản của SBV. Về dài hạn, khi hệ thống bớt phụ thuộc vốn ngắn hạn và cho vay chéo lẫn nhau, giảm rủi ro thanh khoản và áp lực lên lãi suất. Tuy nhiên, từ nay tới 2028, các ngân hàng sẽ phải đẩy mạnh huy động, giảm tốc độ cho vay để cân đối lại nguồn vốn. Những ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào vốn vay liên ngân hàng, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi sẽ phải chịu ảnh hưởng lớn hơn.
- Chúng tôi cũng theo sát diễn biến quá trình điều tra các đối tác thương mại chủ chốt của Mỹ theo mục 301, trong đó có Việt Nam. Việc ngày 30/4/2026 USTR đặt Việt Nam vào mức cao nhất của khoản mục cần ưu tiên theo dõi (“Priority Foreign Country”) là một bước đi báo trước quá trình đàm phán một thỏa thuận thương mại rất khó khăn. Với thực tế xuất siêu Việt Nam sang Mỹ tăng mạnh cùng chiều với nhập siêu từ Trung Quốc, các doanh nghiệp xuất khẩu vào Mỹ có thể cần sẵn sàng cho một mức thuế cao hơn hiện tại.
- Kết quả kinh doanh quý 1/2026 là rất tích cực khi nhóm phi tài chính tăng trưởng kỷ lục ở mức 77%. Theo đà tăng của VN-Index, định giá tính theo giá trị sổ sách tiệm cận vùng đắt trong khi định giá theo PE đang ở vùng trung tính. Tuy vậy, định giá chung của thị trường đang bị kéo lệch đáng kể bởi một nhóm cổ phiếu Vingroup định giá cao và chiếm tới gần 1/3 vốn hóa toàn thị trường trong khi phần còn lại của thị trường không thu hút được dòng tiền và tiếp tục trở nên rẻ hơn dù KQKD rất tích cực. Điều này đã xảy ra trong Q4 2025 và sự tiếp diễn của nó trong 2026 cho thấy sự suy yếu của dòng tiền đầu tư và tâm lý đầu cơ ngắn hạn đang trở nên phổ biến trên thị trường giai đoạn này. Nếu không chấp nhận đi theo xu hướng rủi ro này, nhà đầu tư sẽ rất khó kiếm lợi nhuận trên thị trường trong 6 tháng qua.
- Về cân đối cung cầu, nhà đầu tư ngoại tiếp tục bán ròng hơn 10k tỷ mỗi tháng trong 4 tháng đầu năm cho dù TTCK Việt Nam đã chính thức được FTSE nâng hạng. Chúng tôi không nhận thấy dòng tiền ngoại rút ròng khỏi các thị trường mới nổi khác và trong khu vực gần đây. Áp lực cung từ phát hành thêm vẫn tiếp tục duy trì trong Q1 và Q2 ở tốc độ tương đương giai đoạn cao điểm Q4 2025 cũng là lý do khiến dòng tiền trên thị trường hao hụt và khan hiếm hơn. Nhu cầu phát hành sẽ tiếp tục duy trì trong năm nay khi TTCK đang nổi lên thành kênh huy động vốn thay thế cho kênh tín dụng vốn đã hết dư địa mở rộng và đang đi vào giai đoạn tái cơ cấu theo thông tư mới.
- Số dư vay nợ margin cũng tăng lên đỉnh cao về số tuyệt đối lẫn tính trên vốn hóa ở cuối Q1/2026 bất chấp lãi suất vay margin đã tăng lên theo mặt bằng lãi suất cho vay chung ngoài nền kinh tế. Rủi ro sẽ thực sự lớn khi những cổ đông lớn và chủ DN đang vay deals tại CTCK cùng gặp khó khăn về dòng tiền với hoạt động kinh doanh cốt lõi (chủ yếu liên quan tới bất động sản), từ đó không có khả năng trả nợ và kích hoạt làn sóng bán giải chấp. Mặt bằng lãi suất cho vay margin và thanh khoản trên thị trường bất động sản sẽ là chỉ báo sớm cần theo dõi của rủi ro này.
- Nhìn về tổng thể, chúng ta đang đứng trước một giai đoạn với nhiều rủi ro vĩ mô tăng lên cả trong và ngoài nước: từ lạm phát bắt đầu tăng mạnh, SBV chủ động siết lại hoạt động cho vay và huy động vốn của hệ thống ngân hàng theo dự thảo thông tư mới, tới rủi ro bị áp một mức thuế mới cao hơn từ Mỹ sau những hoạt động điều tra đang tiến hành trong bối cảnh nhập siêu lớn đang quay trở lại gây áp lực lên dự trữ ngoại hối và ổn định tỷ giá. Ngoài ra, thị trường BĐS đang giao dịch chậm lại trên cả nước dưới sức ép lãi suất trong khi nguồn cung bước vào giai đoạn tăng kỷ lục càng khiến cho tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế chậm lại, quay lại ảnh hưởng tiêu cực lên thanh khoản và lãi suất.

Cho dù Chính phủ đã kịp thời có những quyết sách hướng tới xử lý các gốc rễ gây thiếu hụt thanh khoản toàn hệ thống gần đây, chúng tôi cho rằng sẽ cần thời gian tính bằng nhiều quý để thực sự khắc phục được các mất cân đối hiện nay trong hệ thống ngân hàng từ đó ổn định lại được lãi suất. Trong giai đoạn đó, TTCK sẽ tiếp tục gặp khó về thanh khoản và chịu áp lực chiết khấu về định giá. Khi dòng tiền đầu theo đuổi lợi nhuận ngắn hạn và vào một nhóm cổ phiếu định giá rất cao, thị trường lại bắt đầu offer cho chúng ta những cơ hội đầu tư các doanh nghiệp có KQKD tích cực với định giá rẻ nhưng bị dòng tiền bỏ qua. Tuy vậy, một cơ hội thực sự lớn với rủi ro thấp sẽ chỉ đến khi những rủi ro lớn được kể tới ở trên được bộc lộ và chiết khấu đầy đủ vào định giá chung toàn thị trường.

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:- Cuộc xung đột tại Iran có tín hiệu được kiềm chế khi hai...
09/04/2026

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:
- Cuộc xung đột tại Iran có tín hiệu được kiềm chế khi hai bên đều có mong muốn đàm phán, nhưng dòng chảy dầu và chế phẩm liên quan vẫn chưa lưu thông đáng kể trở lại. Ngay cả khi đạt được một thỏa thuận về mở cửa lại eo biển, thời gian cần phải tính bằng nhiều tuần và tháng để các nhà sản xuất khôi phục sản lượng. So với kỳ vọng ban đầu, kịch bản đứt gẫy cung ứng kéo dài đang hiện hữu hơn và đã bắt đầu gây ảnh hưởng tiêu cực lên kinh tế toàn cầu. Nếu không sớm có một thỏa thuận toàn diện, giá dầu Brent neo cao ở mức trên $90 sẽ tạo hiệu ứng tiêu cực lên lạm phát và cả triển vọng tăng trưởng. Ở một diễn biến khác, dự kiến một nửa vốn đầu tư trung tâm dữ liệu phục vụ A.I trong năm nay sẽ tạm dừng do chi phí đang tăng vọt cũng sẽ làm giảm đà tăng trưởng lợi nhuận của S&P 500 trong năm 2026.
- Cùng với diễn biến từ cuộc xung đột, thị trường trái phiếu cũng đang phát đi tín hiệu tăng lãi suất dưới áp lực lạm phát do tác động đứt gẫy nguồn cung. Khi lạm phát tăng trở lại trong khi thất nghiệp vẫn ở mức thấp, FED và các NHTW sẽ thận trọng hơn trong việc hạ lãi suất nhìn từ bài học 2022. Rủi ro bất ổn và lãi suất tăng đang khiến dòng tiền quay trở lại phòng thủ, bán mạnh các tài sản rủi ro và tăng nắm giữ USD. Đồng USD mạnh cùng với lãi suất neo cao là những làn gió ngược khiến nhà đầu tư nước ngoài bán ròng kỷ lục ở các thị trường mới nổi trong tháng qua, đặc biệt là các thị trường châu Á phụ thuộc nguồn cung dầu Trung Đông.
- Trong tháng 3, Ủy ban thương mại Hoa Kỳ đã công bố khởi xướng điều tra theo mục 301 đối với 16 đối tác thương mại với Hoa Kỳ. Dự kiến các phiên điều trần sẽ diễn ra vào đầu tháng 05/2026 và tới tháng 07/2026 sẽ có quyết định cuối cùng. Thuế quan theo mục 301 sẽ không bị giới hạn bởi mức thuế suất và thời gian áp dụng, do vậy sẽ là nhân tố ảnh hưởng mang tính cấu trúc tới dòng chảy thương mại và vốn đầu tư toàn cầu. Các nước với mức thặng dư thương mại vào Mỹ cao và tăng mạnh gần đây như Việt Nam sẽ là tâm điểm của cuộc điều tra. Diễn biến này là rủi ro cần được Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm để kịp thời ứng phó.
- Trong tháng qua, dòng tiền phòng thủ đã rút rất mạnh khỏi các tài sản rủi ro khiến các chỉ báo ngắn hạn đạt tới mức độ quá bán trên các TTCK lớn, rất dễ khiến các thị trường này đảo chiều phục hồi khi có các thông tin tích cực từ chiến sự tại Iran cũng như giá dầu. Tuy vậy, nhìn vào bức tranh lớn hơn, xu hướng giảm lãi suất 2 năm qua đã kết thúc và có rủi ro đảo chiều khi lạm phát tăng mạnh trở lại. Triển vọng tăng trưởng suy yếu trên một nền định giá không đủ rẻ có thể khiến dòng tiền đầu tư tiếp tục thận trọng trong thời gian tới, cho tới khi bất ổn lắng dịu hoặc mức giảm giá đủ để chiết khấu rủi ro.

Đối với thị trường Việt Nam, chúng tôi có một số điểm lưu ý:
- Việt Nam đã có một Q1/2026 tăng trưởng GDP thần tốc 7.83% trong bối cảnh cả thế giới suy yếu. Tăng trưởng tín dụng yếu và nhập siêu không làm cản trở sự bứt tốc của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên lạm phát cơ bản và lạm phát hàng hóa có dấu hiệu tăng tốc trong khi giá xăng, dầu diesel và các hàng hóa cơ bản chưa phản ánh hết vào dữ liệu tháng 3. Về mặt điều hành chính sách tiền tệ, SBV đang ở thế khó hơn năm 2025 khi hệ thống ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ thanh khoản của SBV trong khi lạm phát bắt đầu tăng tốc và đã vượt lãi suất chính sách lần đầu tiên kể từ giai đoạn 2008-2012.
- Hệ thống ngân hàng trong ba tháng đầu năm tiếp tục đối mặt với tình trạng khó huy động trong khi nhu cầu vay vẫn cao. Hệ quả là hệ số LDR thuần vốn đã vượt 110% từ cuối 2025 đã tăng thêm khoảng 2% trong Q1 2026, tiếp tục gây căng thẳng thanh khoản kéo dài và dẫn tới cuộc đua lãi suất huy động trong tháng 3 với mức lãi suất 6-12 tháng của nhiều ngân hàng cổ phần đã vượt mốc 8%-9%/năm. Những lý do chính của việc huy động chậm hơn cho vay vẫn tiếp diễn đầu 2026 khi tỷ giá tự do vẫn vượt xa tỷ giá liên ngân hàng (đại diện nhu cầu găm giữ USD và vàng chống mất giá VND); thanh khoản thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm (giảm vòng quay tiền và khả năng trả nợ của DN BĐS); và nhu cầu sử dụng tiền mặt của các hộ kinh doanh có vẻ chưa giảm bớt. Khi lạm phát vào xu hướng tăng mạnh, thị trường sẽ yêu cầu một mặt bằng lãi suất cao hơn nữa để tăng sức hấp dẫn của VNĐ, nhằm kìm hãm và đảo chiều các tình trạng nêu trên. Như kinh nghiệm các chu kỳ trước, đặc biệt là giai đoạn hạ đòn bẩy 2011-2012, quá trình này có thể kéo dài nhiều quý trong đó sẽ có giai đoạn lãi suất đủ cao làm cầu tín dụng co lại nhưng huy động vốn cải thiện.
- Đối phó với tình trạng đứt gẫy nguồn cung xăng dầu, Chính phủ Việt Nam đã chủ động tìm kiếm các nguồn cung thay thế thông qua những ký kết với Angola, Nga,... Mặt khác, Chính phủ cũng đã thực hiện giảm các loại thuế phí và chi tạm ứng thêm 8,000 tỷ đồng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. Việc sử dụng ngân sách hỗ trợ giảm mạnh giá xăng dầu là biện pháp rất kịp thời giúp giảm áp lực lạm phát, chia sẻ trực tiếp gánh nặng chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Chúng tôi cũng quan sát thấy tình trạng tăng giá đột biến và thiếu hụt nguyên liệu đầu vào đang xảy ra trên diện rộng với một số ngành nghề từ vật liệu xây dựng, hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi… Hiệu ứng của chi phí đẩy này cùng với lạm phát kỳ vọng sẽ khiến giá bán đầu ra leo thang trong các tháng tới, tiếp tục gây áp lực lên lạm phát năm nay. Nhìn xa hơn nữa, sức mua của nền kinh tế có thể giảm nếu không có những giải pháp quyết liệt từ Chính phủ kiềm chế giá và hỗ trợ tiêu dùng.
- Nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng gần 17.5 nghìn tỷ đồng trên HOSE trong tháng 3, và hơn 32 nghìn tỷ đồng tính từ đầu năm. Đây là mức bán ròng mạnh và gấp gáp theo xu hướng chung toàn cầu, dù vậy vẫn gây chút ngạc nhiên cho chúng tôi khi xảy ra ngay trước khi Việt Nam được vào rổ EM của FTSE. Lượng phát hành thêm lớn lên cổ đông hiện hữu, lượng đáo hạn và nhu cầu phát hành trái phiếu bất động sản (lợi suất đã chạm 18%) cũng ở mức cao trong Q2 cùng với lãi suất huy động tăng mạnh đang cộng hưởng tạo nên sức ép thanh khoản lên thị trường chung. Dòng tiền nội với ít lựa chọn đầu tư gần đây vẫn đang được thu hút vào TTCK giúp hấp thụ tốt lượng cung này như đã diễn ra trong suốt 4 quý gần đây. Tuy vậy, khi lãi suất tăng đủ cao có thể khiến dòng vốn nội dần đảo chiều trong những tháng tới và gây áp lực lên lượng vay margin đang ở quy mô kỷ lục. Quá trình hạ đòn bẩy thường sẽ xảy ra trên TTCK trước thị trường bất động sản và nền kinh tế chung do tính thanh khoản. Cho tới cuối quý 1, lượng margin vẫn duy trình quanh vùng đỉnh 2025.
- Nhìn tổng thể, nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng trong năm nay phải đối mặt với một số khó khăn ngắn hạn: thanh khoản giảm, lạm phát tăng, rủi ro thuế quan, và dòng tiền ngoại rút khỏi EM. Về dài hạn, chúng tôi tin rằng những cải cách thể chế, việc nâng hạng thị trường, Chính phủ mới với nhiều kinh nghiệm điều hành sẽ giúp chèo lái vượt qua những bất định trên. Doanh nghiệp niêm yết là những đại diện năng động và hiệu quả nhất của nền kinh tế cũng sẽ sớm thích nghi và vượt qua các khó khăn thách thức như đã từng nhiều lần trước đây. Nhưng trước mắt, trong xu hướng tăng của lãi suất, tiền mặt sẽ dần lên ngôi và là kênh phòng thủ tốt để chờ đợi TTCK hạ đòn bẩy, chiết khấu đủ và mang lại những cơ hội đầu tư thực sự hấp dẫn.

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:- Cuộc xung đột tại Iran đã lan rộng ra toàn khu vực Trung...
10/03/2026

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:
- Cuộc xung đột tại Iran đã lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông và tác động mạnh ngay tới thị trường tài sản và hàng hóa toàn cầu thông qua tuần tăng kỷ lục của giá dầu. Việc gián đoạn 20% nguồn cung dầu cho thế giới đã khiến giá dầu tăng mạnh lên vùng $100/ thùng, và nếu duy trì sẽ tác động tiêu cực như tăng lạm phát. Cứ 10% tăng thêm của giá dầu sẽ làm lạm phát tăng khoảng 0.3% và giảm tăng trưởng GDP 0.3-0.7% với nhiều nền kinh tế lớn phụ thuộc dầu nhập khẩu. Các thị trường chứng khoán mới nổi rất nhạy cảm với sức mạnh đồng USD, lạm phát, và triển vọng tăng trưởng, ngay lập tức phản ứng tiêu cực như: chứng khoán Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan giảm 10-20% từ đỉnh với những phiên giảm kỷ lục 8-10%… Trong các báo cáo trước, chúng tôi có đề cập tới vùng giá cao kết hợp mức đòn bẩy cao của các thị trường tài sản toàn cầu là rủi ro kéo các kênh tài sản giảm mạnh đồng pha khi có sự kiện kích hoạt tâm lý phòng thủ.
- Trong kịch bản tích cực, chiến sự sẽ không leo thang và chỉ diễn ra căng thẳng trong vài tuần, sau đó sẽ hạ nhiệt để hai bên đi đến một thỏa thuận. Kịch bản này cùng với OPEC+ cam kết tăng sản lượng, giá dầu tăng sốc trong thời gian ngắn và sẽ dịu dần về cuối năm (như mức thị trường future đang giao dịch hiện nay). Trong trường hợp tích cực này, tác động của cuộc xung đột sẽ không quá nghiêm trọng và kéo dài. Tuy vậy, trong kịch bản xấu, nếu xung đột lan rộng và kéo dài vượt ngoài tầm kiểm soát sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới cung ứng dầu mỏ và nhiều loại hóa chất, nông sản thông thương qua khu vực vùng Vịnh, tạo nên các đứt gẫy với chuỗi cung ứng của nhiều hàng hóa thiết yếu trên toàn cầu. Dù khả năng này không được đánh giá cao, việc chuẩn bị phòng ngừa vẫn sẽ được các bên thực hiện và rút vốn khỏi các kênh tài sản rủi ro trong đó có các TTCK mới nổi là điều đang xảy ra trong bối cảnh hiện nay.
- Sau phán quyết của Tòa án tối cao Mỹ về cơ sở áp thuế đối ứng, tổng thống Mỹ đã ngay lập tức sử dụng Điều khoản 122 để áp thuế 10% lên hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Trong 150 ngày hiệu lực của thuế quan này, tạm thời mức thuế trung bình của hàng hóa vào Mỹ giảm từ 16% về 12%. Đây cũng là khoảng thời gian chính quyền Mỹ sẽ tiến hành điều tra về thương mại theo Mục 301 và 232 với các đối tác thương mại trong top 10 giao thương với Mỹ về những hoạt động thương mại không công bằng và các ngành ảnh hưởng an ninh quốc gia. Hai mục này sẽ cho phép tổng thống Mỹ áp thuế không thời hạn với từng đối tác. Cụ thể về mức thuế quan sẽ dần hé lộ trước hội nghị thượng đỉnh Mỹ- Nhật Bản (19/3) và Mỹ - Trung Quốc (31/3). Trong kịch bản cơ sở, chúng tôi cho rằng thuế quan trung bình sẽ không thấp hơn mức trước đây, nhưng từng quốc gia có thể biến động do cơ sở áp thuế thay đổi. Ngoài mục đích kéo sản xuất về Mỹ, áp thuế quan còn giúp Chính phủ Mỹ giảm thâm hụt ngân sách do đã hạ thuế thu nhập doanh nghiệp và cá nhân. Các nước có mức thâm hụt thương mại lớn và gia tăng gần đây sẽ chịu rủi ro lớn hơn khi Mỹ đánh giá lại để áp mức thuế mới.
- Tiêu dùng Trung Quốc tiếp tục suy yếu với doanh số bán lẻ loại trừ lạm phát giảm lần đầu tiên sau 2 năm trong khi năng lực sản xuất vẫn tiếp tục cao khiến lượng hàng dư thừa được đẩy ra thị trường thế giới. Mặt khác, các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp tục thực hiện việc dịch chuyển sản suất qua các nước có hàng rào thuế quan thấp hơn để thâm nhập các thị trường lớn như Mỹ và EU. Việt Nam thời gian gần đây đã thu hút lượng lớn FDI từ Trung Quốc đồng thời ngày càng nhập khẩu nhiều nguyên liệu đầu vào hơn từ thị trường này. Chính phủ Trung Quốc đồng thời mở rộng cả cánh cửa vay vốn cho các nước vay để thực hiện đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, tất nhiên đổi lại là việc nhập khẩu đầu vào và cho phép các nhà thầu nước này tham gia. Khi lãi suất vay USD vẫn neo cao và áp lực tỷ giá chực chờ, đây là một lựa chọn hấp dẫn với nhiều nước đang phát triển có kế hoạch đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn như Việt Nam.

Đối với thị trường Việt Nam, chúng tôi có một số điểm lưu ý:
- Thanh khoản hệ thống ngân hàng không cải thiện nhiều sau Tết do vẫn duy trì tình trạng khó huy động nên vẫn phải vay mượn nhau trên thị trường hai và phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ Kho bạc cũng như hỗ trợ thanh khoản qua kênh OMO và SWAP từ NHNN. Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục duy trì quanh mức 7% cho các kỳ dài hơn 1w đã gây sức ép lên lãi suất huy động và cả lãi suất trái phiếu khiến lần đầu tiên sau gần 2 năm (nới lỏng tiền tệ) mức lợi suất TPCP Việt Nam 10y đã lên 4.3%, cao hơn lãi suất US10y.
- Để hiểu rõ nền kinh tế và hệ thống ngân hàng đang ở đâu trong chu kỳ tín dụng dài hạn, hãy nhìn vào mức độ mất cân đối trong cho vay và huy động (LDR thuần) vốn đã tăng từ mức đáy lành mạnh 85% vượt đỉnh 110% sau 10 năm. Hệ quả là số dư vay liên ngân hàng để bù đắp thiếu hụt vốn đã chiếm trên 15% tổng huy động toàn hệ thống và vượt 30% ở nhiều ngân hàng TMCP quy mô nhỏ và trung bình. Thanh khoản interbank tăng 5 lần chỉ trong 3 năm lên mức kỷ lục 800k -1,1 triệu tỷ/ngày cho thấy vòng quay này ngày càng cấp bách và căng thẳng. NHNN gần đây cũng đã liên tục phải dùng gần hết dư địa OMO và mở ra kênh SWAP ngoại tệ để hỗ trợ thanh khoản. Đây là những tín hiệu cảnh báo tình trạng thanh khoản hệ thống cũng như sự mất cân đối cơ cấu vốn đã ở mức cao nhất kể từ cuối chu kỳ trước - 2011. Một hệ thống ngân hàng lành mạnh cần đủ khả năng tự cân đối thanh khoản và tạo nguồn huy động thị trường một thay vì liên tục phải dùng cấu trúc vay nợ lẫn nhau với quy mô và chi phí ngày càng lớn. Sự phụ thuộc vào tín dụng bất động sản và đà suy giảm giao dịch gần đây trên thị trường này đang tiếp tục làm giảm vòng quay tiền và khả năng thu hồi nợ, gây sức ép thanh khoản cục bộ lên một số ngân hàng. Dưới áp lực cộng hưởng của xung đột Trung Đông lên tỷ giá và lạm phát gần đây, dư địa hỗ trợ từ NHNN sẽ trở nên hạn chế hơn khiến xu hướng tăng lãi suất sẽ còn kéo dài.
- Một sự kiện khác cần lưu tâm trong những tháng tới là thuế quan của Mỹ sẽ áp cho Việt Nam. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp Việt Nam đang được hưởng lợi khi thuế quan tạm thời giảm và co hẹp chênh lệch với các nước ASEAN. Việt Nam có thể gặp bất lợi mới vì trong giai đoạn áp thuế đối ứng, xuất siêu sang Mỹ đã tăng 39% và nhập khẩu từ Trung Quốc cũng tăng tương ứng. Tâm điểm chú ý của đàm phán thuế sẽ ở transhipment, qua đó các ngành nghề có hàm lượng nhập khẩu đầu vào cao sẽ chịu rủi ro lớn hơn. So với lần hoảng loạn năm ngoái, lần này mức thuế nếu cao bất ngờ sẽ ít ảnh hưởng tới tâm lý nhà đầu tư nhưng các ảnh hưởng thực tế lên tỷ giá, dòng chảy FDI và KQKD các doanh nghiệp xuất khẩu liên quan… sẽ rõ ràng và trực diện hơn.
- Thị trường chứng khoán trong những ngày đầu tháng 3 đã phản ứng khá tiêu cực với cuộc xung đột tại Iran. Tỷ trọng xuất nhập khẩu với khu vực Trung Đông là nhỏ, tác động thực sự nằm ở mức tăng giá xăng dầu và các mặt hàng liên quan. Việt Nam nhập khẩu dầu thô (~50%), LPG (~70%) và LNG (100%) từ khu vực Trung Đông, phục vụ cho việc sản xuất xăng, sản phẩm hóa dầu và điện. Cuộc xung đột kéo dài trên 1 tháng sẽ tạo ra sự thiếu hụt cung trước mắt cho các nhà máy, ảnh hưởng phần nào tới các hoạt động vận tải, logistics và năng lượng. Tuy vậy, tất cả các ảnh hưởng này nếu có xảy ra cũng chỉ gay gắt trong ngắn hạn trước khi các dòng chảy khơi thông trở lại và ổn định theo trật tự mới.
- Một lần nữa kể từ năm 2022, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn căng thẳng về thanh khoản và lãi suất của cuối chu kỳ nới lỏng tín dụng, cộng hưởng với áp lực từ bên ngoài do xung đột khiến giá dầu tăng vọt. Dù lạm phát khó tăng mạnh thành vấn đề trọng tâm toàn cầu như 2022 nhưng mức độ căng thẳng của thị trường tiền tệ với quy mô vay nợ trên thị trường chứng khoán và bất động sản đang ở mức độ cao hơn nhiều. Bối cảnh vay nợ lớn cộng với lãi suất tăng và chi phí đầu vào biến động mạnh do bất ổn địa chính trị đang tạo nên một môi trường không thuận lợi, kích hoạt và hạ đòn bẩy lớn trong thời gian tới từ đó đưa mức định giá về vùng chiết khấu an toàn và hấp dẫn hơn cho cả hoạt động trading và đầu tư dài hạn.

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:- Chúng tôi xin lưu ý tới nhà đầu tư một sự kiện có thể là...
10/02/2026

Chúng tôi có những cập nhật mới về thị trường quốc tế như sau:
- Chúng tôi xin lưu ý tới nhà đầu tư một sự kiện có thể làm thay đổi cách thị trường tài chính Mỹ và toàn cầu vận hành thời gian tới, đó là việc Tổng thống Trump mới đây đã chọn Kevin Warsh làm Chủ tịch FED nhiệm kỳ tiếp theo. Trong số bốn ứng viên cuối cùng, ông Kevin Warsh là người có quan điểm khắt khe nhất, đã nhiều lần chỉ trích FED can thiệp quá thường xuyên và làm méo mó sự vận hành của thị trường tài chính thông qua các lần bơm tiền hỗ trợ thanh khoản không cần thiết. Điều này giúp đẩy giá tài sản tài chính nhưng cũng khiến lạm phát và kỳ vọng lạm phát tăng vượt kiểm soát, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo bởi đa số người dân Mỹ không sở hữu nhiều tài sản tài chính nhưng phải gánh chịu hết thiệt hại do lạm phát gây ra. Ông cũng cho rằng các gói QE đã gián tiếp làm kỷ luật tài khóa của chính phủ Mỹ cũng như toàn cầu bị buông lỏng, khiến thâm hụt ngân sách và nợ công tăng cao khiến lãi suất dài hạn tăng trở lại ngay cả khi FED hạ lãi suất.

- Kevin Warsh tin rằng FED có thể hạ lãi suất dài hạn bằng cách lấy lại niềm tin của thị trường khi tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát, thu hẹp bảng cân đối kế toán, để thị trường tự vận hành và chỉ can thiệp trong các giai đoạn khủng hoảng ngặt nghèo. Ông tin vào sự năng động, sáng tạo và hiệu quả tự thân của nền kinh tế Mỹ. Cụ thể là làn sóng AI đang và sẽ giúp nước Mỹ tăng trưởng mạnh nhờ thúc đẩy năng suất nên không tạo áp lực lạm phát. FED do đó hoàn toàn có dư địa hạ tiếp lãi suất điều hành. Kevin Warsh sẽ cần vượt qua vòng chất vấn và bỏ phiếu tại Thượng viện trước khi chính thức nhậm chức trong tháng 5. Ông cũng cần thuyết phục được các thành viên còn lại của Ủy ban Thị trường mở (FOMC) trước khi đưa ra và thực thi những chính sách mới. Ba tháng tới sẽ là thời gian thị trường toàn cầu chờ đợi và tìm cách đánh giá trước tác động từ những thay đổi chính sách mà tân Chủ tịch FED có thể thực hiện.

- Nếu FED một mặt hạ lãi suất điều hành ngắn hạn, mặt khác hạ quy mô tài sản nắm giữ, siết lại cung tiền và lùi lại phía sau để tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát, đồng USD sẽ mạnh lên, dòng tiền ưu tiên quay trở lại Mỹ. Dư địa điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của các nước đang phát triển sẽ co hẹp lại. Tài sản tài chính toàn cầu có thể chịu áp lực điều chỉnh ngắn hạn khi các thành phần tham gia cơ cấu lại tỷ trọng để chuẩn bị cho một bối cảnh chính sách mới, ở đó thanh khoản có thể không còn dư thừa như nhiều năm qua.
- Chỉ vài ngày sau khi ông Trump tuyên bố lựa chọn Chủ tịch FED mới, giá vàng đã giảm 15%, bạc giảm 30%, Bitcoin và các đồng crypto giảm 30%-50% giá trị. Các thị trường chứng khoán cũng chịu áp lực bán mạnh và đồng USD bật tăng 2%. Ở những lần điều chỉnh mạnh trên 15% của TTCK Mỹ và toàn cầu trong mười năm trở lại đây, tiền số luôn là kênh tài sản nhạy cảm nhất với dòng tiền đầu cơ/đầu tư, đều đóng vai trò chỉ báo sớm, tạo đỉnh trước S&P500 khoảng 2 tháng - 3 tháng. Lần này, Bitcoin đã tạo đỉnh 126.000 USD vào cuối tháng 10/2025 và hiện đã giảm hơn 40%.

- Dù tăng trưởng EPS dự kiến 2026 của S&P500 vẫn đạt trên 10%, nhưng với mức định giá cao, tỷ lệ vay margin kỷ lục, cổ đông nội bộ tăng cường bán, và dòng tiền mua cổ phiếu quỹ suy yếu do áp lực giải ngân CAPEX lớn, TTCK Mỹ đang đứng trước nhiều áp lực hứa hẹn một năm 2026 nhiều biến động lớn và không dễ dàng cho nhà đầu tư như 3 năm qua.

Đối với thị trường Việt Nam, chúng tôi có một số điểm lưu ý:
- Mặc dù SBV đã chủ động kiểm soát tăng trưởng tín dụng tổng thể năm 2026 và ưu tiên vốn vay cho các lĩnh vực ngoài bất động sản - một bước đi chủ động, kịp thời, nhưng thị trường liên ngân hàng vẫn tiếp tục căng thẳng khi lãi suất qua đêm tăng vọt, vượt qua mức đỉnh 10/2022. Trong các báo cáo tháng 11 và 12, chúng tôi đã đề cập tới những giới hạn của tăng trưởng tín dụng và sự đánh đổi của tăng trưởng tín dụng nhanh với lãi suất, tỷ giá - những nền tảng làm nên sự ổn định vĩ mô trong hơn 10 năm qua. Những biểu hiện của tỷ giá (giai đoạn tháng 6 – 8/2025) và của lãi suất liên ngân hàng gần đây cho thấy hệ thống cần có thêm dòng tiền inflow đủ lớn và vòng quay vốn vòng nhanh hơn, nếu không sẽ phải chấp nhận một mặt bằng lãi suất cao hơn nữa để cải thiện được huy động VNĐ và đảo chiều dòng tín dụng đã vào tích trữ và đầu cơ tài sản.

- Có nhiều lý do đồng thời tác động khiến lãi suất qua đêm tăng vượt đỉnh 2022 và sánh ngang với những giai đoạn hệ thống ngân hàng gặp khó khăn lớn của thời 2008 và 2011. Thứ nhất, dưới một nền thanh khoản vốn đã co hẹp do LDR thuần vượt 110% (tương tự cuối 2010), mọi tác động phụ trội tới từ mùa vụ Tết, nhu cầu giao dịch bằng tiền mặt, nhu cầu tích trữ vàng… đều sẽ có tác dụng cộng hưởng lên thanh khoản chung của hệ thống, dù mọi năm những tác động này chỉ khiến lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ 1%-2%. Yếu tố khác đáng chú ý hơn sẽ là khả năng vòng quay thanh khoản chậm lại trên thị trường bất động sản gần đây có thể bắt đầu khiến dòng tiền của nhiều chủ đầu tư gặp khó khăn dẫn tới giảm khả năng trả nợ ngân hàng.

- Chúng tôi đang theo dõi kỹ xu hướng tăng lãi suất và suy giảm thanh khoản để đánh giá tác động lên khả năng tiếp cận vốn cũng như chi phí lãi vay của doanh nghiệp và hộ gia đình trong năm nay. Với dư nợ tín dụng chiếm 146% GDP và đạt hơn 18,5 triệu tỷ VNĐ, trong đó dư nợ hộ gia đình chiếm khoảng 65% GDP, trường hợp lãi suất cho vay tiếp tục tăng và ở mức trung bình cao hơn 2,5% so với 2025 và dư nợ tín dụng tăng trưởng 15% trong 2026, toàn bộ nền kinh tế sẽ phải gánh thêm gần 500.000 tỷ/năm chi phí lãi vay, ước tính khối doanh nghiệp chịu thêm hơn 300.000 tỷ và hộ gia đình phải trả thêm gần 200.000 tỷ lãi vay. Những tác động này sẽ có độ trễ 3 tháng - 6 tháng để thể hiện lên con số doanh thu, lợi nhuận, sức chi tiêu tiêu dùng, và độ trễ 6 tháng - 12 tháng để thể hiện lên nợ xấu của hệ thống ngân hàng.

- Theo Fiingroup, đà tăng trưởng lợi nhuận Q4 2025 tiếp tục ở mức rất mạnh, trên 30% y-o-y. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đi rất sát với chu kỳ tín dụng do mức đóng góp lớn của nhóm ngân hàng và bất động sản trong tăng trưởng lợi nhuận chung. Trong trường hợp tín dụng tăng trưởng không như kế hoạch do đầu tàu tăng trưởng tín dụng là nhóm bất động sản không còn được ưu tiên, tăng trưởng lợi nhuận của ngành ngân hàng, bất động sản và liên quan sẽ có áp lực suy yếu từ nửa sau 2026. TTCK hiện nay đang phản ánh trước viễn cảnh này.

- Trong tháng 1/2026, nhà đầu tư nước ngoài bất ngờ quay lại bán ròng 6,7 nghìn tỷ, sau khi mua ròng nhẹ ở tháng 12/2025. Trong tuần đầu tháng 2, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng hơn 5 nghìn tỷ VND. Việt Nam là nước có tốc độ bán ròng mạnh nhất (tính trên vốn hóa) kể từ đầu 2026, trái ngược với nguồn vốn chảy vào các thị trường mới nổi kỷ lục 20,6 tỷ usd trong tháng 1/2026 và cả 6 tháng qua khi USD Index yếu đi. Đây là điều gây ngạc nhiên trong bối cảnh các chỉ số vĩ mô về tăng trưởng của Việt Nam tiếp tục thể hiện tốt, tỷ giá đã ổn định hơn, và TTCK cũng tiến gần hơn với thời điểm được FTSE nâng hạng.

- Tỷ lệ margin tính trên vốn hóa đã lên mức kỷ lục 5% với tốc độ tăng nhanh hơn so với tín dụng chung của nền kinh tế cho thấy chứng khoán cùng với BĐS là hai địa chỉ thu hút mạnh tín dụng gần đây dưới môi trường tiền rẻ. Lượng margin tăng lên năm qua khá tương đồng với mức bán ròng của khối ngoại và lượng phát hành mới cho thấy sự lạc quan của nhà đầu tư nội đã thể hiện bằng hành động mua vào lượng lớn cổ phiếu bằng tiền vay. Sự tích tụ margin kỷ lục (vượt 400 ngàn tỷ) tiếp tục là rủi ro ngày càng hiện hữu trong bối cảnh số dư tiền mặt trong tài khoản nhà đầu tư tụt giảm mạnh (-40,2 ngàn tỷ) và lãi suất đang tăng lên khi hệ thống ngân hàng thể hiện thêm nhiều dấu hiệu căng thẳng về thanh khoản. Bộ đệm tiền mặt (98,7 ngàn tỷ) chỉ còn dưới ¼ tỷ lệ vay nợ margin cũng là mức thấp lịch sử cho thấy sự mong manh của sức mua nếu áp lực bán gia tăng từ khối ngoại, từ lượng phát hành, hoặc từ một sự kiện khiến tâm lý nhà đầu tư nội đảo chiều.

- Chúng ta đang đi tới cuối chu kỳ tăng trưởng tín dụng kéo dài đã hơn 10 năm, lượng vay nợ tăng nhanh đã đẩy giá các tài sản đầu tư/đầu cơ lên cao, mà đại diện nhất là bất động sản và một số nhóm cổ phiếu trên TTCK. Đây là điều kiện cần để hình thành rủi ro b**g bóng tài sản và điều kiện đủ để xì hơi chính là nguồn cung lớn b**g ra và vòng xoáy khan hiếm thanh khoản cùng xu hướng tăng của lãi suất làm cầu suy giảm. Khi lãi suất tăng vì thiếu hụt thanh khoản như hiện nay, tiền mặt sẽ dần lên ngôi, sau đó giai đoạn hạ đòn bẩy vay nợ chung cũng sẽ bắt đầu, dự kiến từ giữa 2026-2028.

- VN-Index đã sớm đánh mất toàn bộ mức tăng điểm đầu năm trong một nhịp tăng hứng khởi nhưng mang nhiều tính đầu cơ. Khi phần lớn nhà đầu tư có xu hướng sợ nắm giữ tiền mặt và buộc phải mua tài sản giá cao cũng là lúc chúng ta nên tách ra khỏi đám đông, hành động chậm lại để đánh giá kỹ rủi ro. Bởi tính nhạy cảm với lãi suất và thanh khoản, quá trình hạ đòn bẩy tài chính và cụ thể là giảm margin sẽ diễn ra trên TTCK trước khi xảy ra trên thị trường BĐS và nền kinh tế chung. Sớm nhận diện xu hướng vận động lớn và có sự chuẩn bị về thanh khoản và tâm lý sẽ giúp nhà đầu tư vượt qua được những khó khăn và biến động mạnh trong giai đoạn sắp tới. Năm 2026 sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro và cũng hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội rất lớn, nhưng chỉ dành cho những ai có sự chuẩn bị sẵn sàng.

Năm hết Tết đến, xin chúc Quý nhà đầu tư ăn Tết Bính Ngọ thật vui và một năm mới thành công!

Address

The Terra Building, 83 Hao Nam Street, D**g Da District
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when SGI Capital posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to SGI Capital:

Share

Category