Giới Thiệu Khuyến Mãi

Giới Thiệu Khuyến Mãi Đăng kí để nhận thưởng miễn phí ngay các bạn nhé 100%
Đặc biệt nhận thưở

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp gà lai kinh tế 3 giống (Mía – Hồ – Lương phượng)Nghiên cứu được tiến hàn...
13/03/2022

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt của tổ hợp gà lai kinh tế 3 giống (Mía – Hồ – Lương phượng)
Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá năng suất, chất lượng thịt của một tổ hợp gà lông màu lai 3 máu trên cơ sở sử dụng gà lai F1 (HxLP) và gà Mía. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lai kinh tế 3 máu đơn giản kết hợp với các phương pháp đánh giá năng suất và chất lượng thịt thông dụng trong chăn nuôi gia cầm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, gà lai 3 giống (Mía- Hồ- LP) phần lớn có màu lông vàng ở con mái, màu nâu thẫm ở con trống, trên 2/3 gà có mào cờ, 1/3 còn lại có mào nụ; chân, da gà có màu vàng rất giống với đàn gà nội, được thị trường ưa chuộng. Cơ thể gà chắc khoẻ, nhanh nhẹn; tỷ lệ nuôi sống đến 12 tuần tuổi đạt 91,7%. Ở 12 tuần tuổi, gà có khối lượng 1915 g. FCR là 2,83; PN là 80,45; tỷ lệ thân thịt là 69,38%; tỷ lệ thịt đùi là 22,16%; tỷ lệ thịt lườn là 22,86%; các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt như giá trị pH; tỷ lệ mất nước sau chế biến của thịt gà, màu sắc thịt, độ dai của thịt đều tốt.
Gà lai 3 giống lúc 1 ngày tuổi phần lớn có màu lông vàng, một số ít cá thể trên lưng có những sọc đen trắng. Khi trưởng thành, 60% gà có mào cờ, còn lại có mào nụ, chân, da có màu vàng. Cơ thể chắc khoẻ, nhanh nhẹ; con mái phần lớn có màu vàng, con trống có màu nâu thẫm… rất giống với đàn gà nội, được thị trường ưa chuộng.
Kết quả theo dõi cho thấy, lượng thức ăn thu nhận của gà lai 3 giống tăng dần qua các tuần tuổi, cao nhất ở các tuần tuổi thứ 7 -12, trung bình là 71,56 g/con/ngày. Kết quả trên tương đương với kết quả nghiên cứu đã công bố của tác giả Đào Văn Khanh (2002): lượng thức ăn thu nhận của gà Lương Phượng là 77,7g đến 81,6g. 77,96g/con /n gày; th eo t ác giả Bùi Hữu Đoàn (2010), gà F 1(H – L P ) t h u nhận thức ăn trun g bìn h là 63,87g.

Phương pháp nhân giống thỏNhân giống thuần: Nhân giống thuần chủng là phương pháp nhân giống trong cùng một giống tạo ra...
13/03/2022

Phương pháp nhân giống thỏ
Nhân giống thuần: Nhân giống thuần chủng là phương pháp nhân giống trong cùng một giống tạo ra thỏ con có đặc điểm tính trạng di truyền ổn định của giống. Nó được áp dụng khi đàn thỏ bố mẹ được xác định đã có năng suất cao ổn định. Do vậy những đặc tính chắc chắn có lợi về mặt kỹ thuật và kinh tế sẽ được chọn lọc và phát huy. Sự ổn định về di truyền giống sẽ cao.
– Nhân giống trong dòng: Là cách nhân giống nhằm tạo ra từng nhóm thỏ đã chọn lọc có tính di truyền ổn định và phẩm giống cao hơn bình thường. Để tạo ra đàn thỏ có những ưu điểm đặc biệt cần phải tiến hành chọn đôi giao phối và chọn lọc con giống qua nhiều thế hệ và có nhiều cá thể tham gia trong quá trình tạo giống. Nếu số con đưa vào chọn lọc quá ít và thời gian ngắn thì kết quả sẽ rất hạn chế. Phương pháp này cũng dẫn đến một mức độ đồng huyết nhất định. Nếu như số lượng thỏ tham gia dưới mức cho phép sẽ dẫn đến đồng huyết năng suất kém, số con chết sẽ tăng lên do hiện tượng đồng hợp tử gen xấu xuất hiện. Kinh nghiệm cho thấy nếu dòng thỏ đực dưới 40 con và 200 con cái thì không thể duy trì dòng thuần được. Nếu định duy trì dòng thuần trong công tác giống thì phải có số lượng thỏ đực và cái nhiều hơn thế hoặc ít nhất là bằng số lượng trên. Đây là phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt trong sự tạo ra dòng thỏ vừa có phẩm chất tốt được cải thiện vừa đảm bảo sự ổn định cao về tiềm năng di truyền, tuy nhiên có nhiều tốn kém về tài chính để loại bỏ những thỏ có khả năng làm tăng sự đồng huyết trong đàn giống.
– Nhân giống khác dòng: Là sự cho phối giống những con thỏ khác dòng với nhau nhằm hạn chế bớt sự đồng huyết xảy ra, tuy nhiên vẫn ổn định được những tiềm năng di truyền tính trạng có lợi của giống. Ta có thể cho phối giống cho giao phối chỉ hai dòng hay liên tục cho phối nhiều dòng với nhau với dòng khác hoặc sau đó cho phối với thỏ dòng cũ để ổn định hay bổ sung đặc tính mới được hình thành. Thông thường phương pháp này có thể tạo ra những dòng mới thích nghi được những điều kiện nuôi dưỡng hay khí hậu ở những cơ sở khác nhau.

Doanh nghiệp đồng loạt tăng giá thức ăn chăn nuôi, nông dân hết lãiLý do được các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đưa ra ...
13/03/2022

Doanh nghiệp đồng loạt tăng giá thức ăn chăn nuôi, nông dân hết lãi
Lý do được các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đưa ra để điều chỉnh tăng giá bán là vì giá nguyên liệu đầu vào sản xuất tăng, cho nên họ phải điều chỉnh giá bán đầu ra.
Đơn cử, ông Trương Thanh Liêm, Phó giám đốc Công ty TNHH liên doanh Mavin Austfeed, trong thông báo giải thích do giá nguyên liệu đầu vào tăng nên đơn vị này tăng giá bán nhằm duy trì và đảm bảo chất lượng sản phẩm phục vụ khách hàng.
Việc giá thức ăn tăng sẽ tiếp tục đẩy người chăn nuôi rơi vào cảnh khó khăn vì sản xuất không có lãi.
Một nhân viên bán hàng cho nhãn hiệu của Công ty cổ phần Danich Agri Việt Nam cho biết, hiện tại heo thịt có giá dao động trong khoảng 5,3-5,5 triệu đồng/tạ. Trong khi đó, sản phẩm được người này bán ra cho người chăn nuôi (chưa áp dụng giá mới- PV) có giá 450.000-470.000 đồng/bao 25 kg đối với loại dành cho heo con; thức ăn cho heo thịt có giá 330.000-350.000 đồng/bao 25 kg; loại cho heo nái mang thai là 270.000-290.000 đồng/bao 25 kg; heo nái nuôi con là 320.000-350.000 đồng/bao 25 kg.
Theo người này, để nuôi một con heo đến khi xuất chuồng tiêu thụ hết 10 bao thức ăn loại 25 kg, trong đó, có 1 bao loại dành cho heo con và 9 bao loại dành cho heo thịt. “Với mức giá như nêu trên, riêng tiền thức ăn, nông dân phải bỏ ra 3,42-3,62 triệu đồng để nuôi một con heo đến khi xuất chuồng”, người này cho biết và nói thêm rằng đó là chưa kể tiền con giống khoảng 1,3-1,5 triệu đồng/con, thuốc thú y, nhân công chăm sóc, điện, nước… Sau khi cân đối giữa đầu vào (giá thức ăn) và đầu ra (giá bán heo thịt) như thực tế hiện nay thì người chăn nuôi rất khó để có lãi.

Doanh nghiệp đồng loạt tăng giá thức ăn chăn nuôi, nông dân hết lãiLý do được các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đưa ra ...
19/02/2022

Doanh nghiệp đồng loạt tăng giá thức ăn chăn nuôi, nông dân hết lãi

Lý do được các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đưa ra để điều chỉnh tăng giá bán là vì giá nguyên liệu đầu vào sản xuất tăng, cho nên họ phải điều chỉnh giá bán đầu ra.



Đơn cử, ông Trương Thanh Liêm, Phó giám đốc Công ty TNHH liên doanh Mavin Austfeed, trong thông báo giải thích do giá nguyên liệu đầu vào tăng nên đơn vị này tăng giá bán nhằm duy trì và đảm bảo chất lượng sản phẩm phục vụ khách hàng.



Việc giá thức ăn tăng sẽ tiếp tục đẩy người chăn nuôi rơi vào cảnh khó khăn vì sản xuất không có lãi.



Một nhân viên bán hàng cho nhãn hiệu của Công ty cổ phần Danich Agri Việt Nam cho biết, hiện tại heo thịt có giá dao động trong khoảng 5,3-5,5 triệu đồng/tạ. Trong khi đó, sản phẩm được người này bán ra cho người chăn nuôi (chưa áp dụng giá mới- PV) có giá 450.000-470.000 đồng/bao 25 kg đối với loại dành cho heo con; thức ăn cho heo thịt có giá 330.000-350.000 đồng/bao 25 kg; loại cho heo nái mang thai là 270.000-290.000 đồng/bao 25 kg; heo nái nuôi con là 320.000-350.000 đồng/bao 25 kg.



Theo người này, để nuôi một con heo đến khi xuất chuồng tiêu thụ hết 10 bao thức ăn loại 25 kg, trong đó, có 1 bao loại dành cho heo con và 9 bao loại dành cho heo thịt. “Với mức giá như nêu trên, riêng tiền thức ăn, nông dân phải bỏ ra 3,42-3,62 triệu đồng để nuôi một con heo đến khi xuất chuồng”, người này cho biết và nói thêm rằng đó là chưa kể tiền con giống khoảng 1,3-1,5 triệu đồng/con, thuốc thú y, nhân công chăm sóc, điện, nước… Sau khi cân đối giữa đầu vào (giá thức ăn) và đầu ra (giá bán heo thịt) như thực tế hiện nay thì người chăn nuôi rất khó để có lãi.

Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng: Xây dựng chỉ số chọn lọc trong công tác giống heo27/08/20211. Đ...
27/08/2021

Trung tâm nghiên cứu và huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng: Xây dựng chỉ số chọn lọc trong công tác giống heo
27/08/2021
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chỉ số chọn lọc được xây dựng dựa trên giá trị giống (được tính theo phương pháp BLUP) và giá trị kinh tế của một số tính trạng được áp dụng phổ biến trên thế giới trong nhiều thập niên qua (Henderson, 1973; Brascamp và ctv, 1985; Hudson v à Kennedy; 1985; Smith và ctv, 1986; Groen, 1989; AGBU, 1993; James, 1993; Cameron, 1997; Wray, 1998; Houska, 2004). Ở nước ta, chỉ số chọn lọc nêu trên chưa được áp dụng nhiều trong thực tế sản xuất. Đứng trước những yêu cầu của thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng chỉ số chọn lọc trong tác giống heo tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng”.
Mục đích
Xây dựng chỉ số chọn lọc và áp dụng chỉ số này trong công tác chọn giống nhằm cải thiện các tính trạng sản xuất gồm sinh trưởng và sinh sản của một số giống heo nuôi tại Trung tâm.
2, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Xây dựng chỉ số chọn lọc
– Ước lượng giá trị giống của một số tính trạng chọn lọc về khả năng sinh sản và sinh trưởng của các giống heo Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.
– Ước lượng giá trị kinh tế của một số tính trạng chọn lọc về khả năng sinh sản và sinh trưởng của các giống heo Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.
– Xây dựng chỉ số chọn lọc.
2.1.2 Ứng dụng chỉ số vào công tác giống ở trại
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng khảo sát
– Đàn heo nái và đực thuần bao gồm các giống Yorkshire, Landrace và Duroc được nuôi tại Trung tâm Bình Thắng.
– Số liệu đưa vào tính toán để xây dựng chỉ số chọn lọc là những số liệu về sinh sản và sinh trưởng được thu thập trên đàn heo thuần và những lứa đẻ được phối giống thuần nuôi tại Trung tâm từ năm 1995 đến năm 2004. Cơ cấu và dung lượng mẫu thu thập được như sau:2.2.2 Phương pháp khảo sát
a) Xây dựng chỉ số chọn lọc
* Ước lượng giá trị giống: Giá trị giống của các thú sẽ được ước lượng dựa trên số liệu khảo sát từ 1995 – 2004
+ Điều tra số liệu
+ Ước lượng giá trị giống
Số liệu thu thập được sẽ được hiệu chỉnh theo phương pháp của NSIF (1997) cho các tính trạng: số con sơ sinh sống/ổ; trọng lượng 21 ngày/ổ và theo phương pháp SIP (Canada, 1997) cho các tính trạng tuổi đạt trọng lượng 90kg; dày mỡ lưng lúc 90kg. Giá trị giống sẽ được ước lượng bằng phương pháp dự đoán tuyến tính không chệch tốt nhất – BLUP (Best Linear Unbiased Prediction) với chương trình PEST version 4.2 (Eldert Groeneveld, 1999).
BLUP – mô hình thú (BLUP – animal model) sẽ được tính cho các tính trạng:
– Tuổi đạt trọng lượng 90 kg.
– Dày mỡ lưng lúc 90 kg.
Mô hình thú có dạng tổng quát như sau: Y = Xb + Zu + e
Và BLUP – mô hình lập lại (BLUP – repeatability model) cho các tính trạng:
– Số con sơ sinh sống / ổ
– Trọng lượng 21 ngày / ổ
Mô hình lập lại có dạng tổng quát như sau: Y = Xb + Zu + Wpe + e
Trong đó:
Y : Véctơ các quan sát
b : Véctơ ảnh hưởng cố định (trại, tháng, năm)
u : Véctơ ảnh hưởng ngẫu nhiên (giá trị giống của các thú)
e : Véctơ sai số ngẫu nhiên
X : Ma trận mẫu (design matrix) liên quan tới các ảnh hưởng cố định
Z : Ma trận mẫu liên quan tới các ảnh hưởng ngẫu nhiên
pe : Véctơ các ảnh hưởng ngoại cảnh thường trực
W : Ma trận mẫu liên quan tới ảnh hưởng ngoại cảnh thường trực
* Ước lượng giá trị kinh tế
Giá trị kinh tế được ước lượng theo phương pháp của NSIF (1997) cho các tính trạng: số con sơ sinh sống/ổ (con); trọng lượng 21 ngày/ổ (kg) và theo phương pháp của Brian Kennedy (Sullivan and Chesnais, 1994) cho các tính trạng: tuổi đạt trọng lượng 90 kg (ngày); dày mỡ lưng lúc 90 kg (mm).
* Xây dựng chỉ số chọn lọc
Chỉ số chọn lọc sẽ được xây dựng theo công thức sau:
SPI = 100 + a1 * EBVSCS + a2 * EBVTL21
TSI = 100 – a3 * EBVT90 – a4 * EBVML90
MLI = 100 + a1 * EBVSCS + a2 * EBVTL21 – a3 * EBVT90 – a4 * EBVML90
Trong đó:
SPI : Chỉ số nái sinh sản
TSI : Chỉ số dòng đực cuối cùng
MLI : Chỉ số dòng mẹ
EBVSCS và a1: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ
EBVTL21 và a2: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng TL 21 ngày tuổi /ổ
EBVT90 và a3: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng tuổi đạt TL 90kg
EBVML90 và a4: Giá trị giống và giá trị kinh tế của tính trạng dày mỡ lưng lúc 90kg
b) Ứng dụng chỉ số chọn lọc trong công tác giống ở trại
– Xây dựng đàn hạt nhân
– Xây dựng chương trình ghép đôi phối giống
Tất cả các số liệu thu thập được xử lý trên chương trình MTDFREML (1994), PEST (1999) và xử lý thống kê sinh vật học trên phần mềm SAS (1998).

Kỹ thuật nuôi bò thịt năng suất caoChọn giốngKhông nên chọn giống bò nội còn gọi là bò địa phương. Nên chọn giống bò chu...
22/08/2021

Kỹ thuật nuôi bò thịt năng suất cao
Chọn giống
Không nên chọn giống bò nội còn gọi là bò địa phương. Nên chọn giống bò chuyên thịt cho tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt cao và chất lượng thịt ngon.
Chọn bò có nguồn gốc, lý lịch rõ ràng, khỏe mạnh, không mắc các bệnh truyền nhiễm, các bệnh nội ngoại ký sinh trùng.
Chọn những con có thể chất khỏe mạnh và có những đặc điểm cơ bản của giống. Có ngoại hình tốt như thân hình cân đối, đầu cổ linh hoạt; Mặt ngắn, trán rộng, mắt sáng, mõm bẹ, bộ răng còn tốt; Mông nở; Đuôi dài, gốc đuôi to; Yếm rộng, chân thẳng, bước đi vững chãi, chắc chắn, móng khít; Lông óng mượt, da mềm, bao da rốn phát triển.
Chuồng trại
Tùy theo điều kiện, quy mô, chuồng trại nuôi bò cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Xây dựng ở nơi cao ráo, sạch sẽ. Chuồng nên xây theo hướng Đông Nam hoặc Nam để đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Chuồng cần xây dựng cách xa nhà ở, đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Diện tích chuồng bình quân 3 m2/con, giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi; 13 - 24 tháng, bình quân 4 m2/con; Có thể ngăn thành các ô rộng để nuôi nhốt 5 - 7 con cùng 1 chuồng hoặc dùng ống kẽm hàng cũi để nuôi nhốt riêng thành từng con. Nền chuồng phải chắc chắn (lát gạch hay bê tông), dễ dọn vệ sinh; Có độ dốc 2 - 3% về phía rãnh thoát.
- Phải có tường chuồng, hàng rào bao quanh khu vực nuôi.
- Có máng ăn, máng uống đặt theo chiều dài hành lang phân phối thức ăn.
- Có rãnh thoát nước, phân, nước tiểu và bể chứa.
- Có mái che chuồng với độ cao và độ dốc vừa phải. Có hệ thống cây xanh chống nóng cho bò trong mùa hè.
- Những vùng chăn nuôi thâm canh cao cần trang bị hệ thống quạt, hệ thống bơm nước để tắm cho bò.
- Trong trường hợp người nuôi muốn quy hoạch thành mô hình trang trại với quy mô lớn, cần xây dựng thành nhiều khu khác nhau như khu vực nuôi nhốt, nhà kho, nhà ở, văn phòng với khoảng cách tối ưu cho mỗi khu 300 - 500 m.
Giai đoạn 1 - 5 tháng tuổi
Từ khi bê sơ sinh đến 30 ngày tuổi: Cho bê bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Nuôi bê cạnh bò mẹ, tại chuồng, không chăn thả (bê bú sữa mẹ); Luôn giữ ấm, tránh gió lùa, cho bê nằm chỗ khô sạch.
Từ tháng thứ 2 - 3: Tập cho bê ăn cỏ xanh phơi khô được nắng. Cỏ tươi rửa sạch để ráo, cho bê ăn thức ăn xanh và thức ăn tinh (thức ăn tinh 0,6 - 0,7 kg/con/ngày đảm bảo mức dinh dưỡng 100 g protein, năng lượng trao đổi 2.800 Kcal/kg.
Từ tháng thứ 4 - 5: Lượng thức ăn thô khoảng 5 - 7 kg cỏ/con/ngày, thức ăn tinh 0,6 - 0,8 kg/con/ngày; Tập cho bê ăn thêm ít thức ăn củ quả như khoai lang, bí đỏ… Trời nắng ấm tập cho bê vận động tự do dưới ánh nắng để bê có đủ Vitamin D3, tạo cho bộ xương cứng cáp.
Giai đoạn 6 - 20 tháng tuổi
Khi bê được 6 tháng tuổi tiến hành cai sữa và cho bê ăn thức ăn thô xanh với lượng 10 kg/con/ngày; Bê 7 - 12 tháng tuổi cần 15 kg/con/ngày; Bê 13 - 20 tháng tuổi cần 30 kg/con/ngày, lượng thức ăn tinh 0,8 - 1 kg/con/ngày (đảm bảo mức dinh dưỡng tối thiểu 100 g protein và năng lượng trao đổi 2.800 Kcal/kg). Lưu ý: Nếu bê ở giai đoạn này nuôi nhốt cần cho bê vận động 2 - 4 giờ/ngày.
Giai đoạn vỗ béo
Cung cấp thức ăn tinh 1,5 - 2,5 kg/con/ngày (đáp ứng mức protein tối thiểu 100 g và năng lượng 2.800 Kcal/kg thức ăn), kết hợp cho bò ăn thức ăn thô xanh 30 kg/con/ngày.
Cho bò uống nước đầy đủ 50 - 60 lít/con/ngày. Luôn có nước sạch trong máng uống trong thời gian vỗ béo. Nên bổ sung 20 - 30 g muối ăn vào nước uống cho bò mỗi ngày.
Thường xuyên tắm chải để kích thích bò ăn uống. Mùa hè tắm 2 lần/ngày. Mùa đông chải khô 2 lần/tuần bằng bàn chải. Kết hợp tắm nắng 2 giờ/ngày, giảm nhiệt độ và cường độ ánh sáng chuồng nuôi. Trong thời gian vỗ béo bò cần nuôi nhốt hoàn toàn, giảm vận động, tăng cường cho bò ăn các loại thức ăn giàu dinh dưỡng, năng lượng.
Kiểm tra tăng trọng của bò bằng cách đo hoặc cân. Khi bò đã béo đúng tiêu chuẩn, quan sát vùng võng (vùng lưng) đã béo thì xuất bán. Cần có sổ ghi chép về tình trạng sức khỏe và tiêu tốn thức ăn của bò để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.
Phòng bệnh
Thường xuyên theo dõi sức khỏe của bò để kịp thời phát hiện các dấu hiệu nhằm đưa ra những biện pháp trị bệnh kịp thời.
Thức ăn, nước uống phải đảm bảo sạch sẽ, đạt yêu cầu.
Vệ sinh sạch sẽ chuồng trại. Máng ăn, máng uống phải được dọn sạch trước khi cho ăn, cho uống hàng ngày. Chất thải rắn như phân, rác, thức ăn thừa... phải được dọn ngày 2 - 3 lần ngay trước lúc cho ăn và phải chuyển ra đúng nơi quy định để xử lý.
Định kỳ 2 lần/tháng phun sát trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng Benkocid, Cloramin 3 - 5%. Tiêu diệt côn trùng (chuột, ruồi, muỗi, ve…) là những vật trung gian truyền bệnh. Sau mỗi đợt nuôi dùng nước vôi 20% quét toàn bộ khu vực chuồng nuôi.
Tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vaccine. Đối với bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng tiêm lần 1 vào tháng 2 - 3 hàng năm, sau 6 tháng tiêm nhắc lại lần 2. Định kỳ tẩy giun đũa cho bê vào tháng thứ nhất, tháng thứ 3 và tháng thứ 9 (bằng Piperazin với liều 2 - 3 g/10 kg trọng lượng).
Ngoài ra nếu bò hoặc bê bị bệnh cần phải cách ly triệt để, điều trị dứt điểm khi khỏi hẳn mới cho nhập đàn nuôi.

Đất hiếm giúp tăng trọng an toàn trong chăn nuôi21/07/2021Các loại thủy sản, gia súc, gia cầm… có thể tăng trọng và chất...
22/08/2021

Đất hiếm giúp tăng trọng an toàn trong chăn nuôi
21/07/2021
Các loại thủy sản, gia súc, gia cầm… có thể tăng trọng và chất lượng an toàn, khi sử dụng các phụ gia thức ăn đất hiếm hợp lý nhờ một số enzim có lợi thúc đẩy tăng trưởng.
Từ nghiên cứu khoa học, TS. Nguyễn Bá Tiến – Viện Công nghệ Xạ hiếm đã nghiên cứu và ứng dụng thành công sản phẩm phân bón vi lượng đất hiếm vào trong nông nghiệp. Sản phẩm này còn được gọi với cái tên “mỹ miều” là Phấn Tiên, tham gia các Hội chợ techmart khoa học và công nghệ nhiều năm liền và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép, đưa vào danh mục phân bón được phép sản xuất, lưu thông trên thị trường Việt Nam.
Trên thực tế, các phụ gia thức ăn đất hiếm đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc, Mỹ, Canada, Thụy Điển và nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, từ năm 2006, khi ở Châu Âu, cấm sử dụng một số thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi. Người ta đã phát hiện ra rằng, các sản phẩm phụ gia thức ăn đất hiếm có thể thay thế thuốc kháng sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số enzim có lợi cho chuyển hóa thức ăn, có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng của động vật, tăng trọng nhanh, giảm chi phí thức ăn, nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao sức đề kháng đối với bệnh tật.
Nghiên cứu cũng chỉ ra, việc sử dụng phụ gia thức ăn đất hiếm trong chăn nuôi cho phép người chăn nuôi dùng liều nhỏ, giá cả thấp mà hiệu quả là những điều đáng chú ý của phụ gia thức ăn có chứa đất hiếm. Các nghiên cứu sâu về tác động sinh học của đất hiếm đói với vật nuôi cũng cho thấy các liều dùng đã nghiên cứu, sản phẩm phụ gia thức ăn có chứa đất hiếm là an toàn đối với động vật và các sản phẩm từ động vật.
Như một loại xúc tác sinh học, các phụ gia thức ăn đất hiếm có khả năng kích thích nhiều loại enzim và nâng cao tỷ lệ sống sót của động vật. Nó có ảnh hưởng mạnh vượt các loại nguyên tố khoáng, đặc biệt là nguyên tố Photpho.
Qua nghiên cứu, chuyên gia đã chứng minh, phụ gia đất hiếm có những tác đụng cụ thể như đối với chăn nuôi lợn, làm cho lợn đỏ da, sáng lông và tiêu hóa tốt. Sự tăng trọng được cải thiện từ 10-20%, chi phí thức ăn giảm 8 – 10%.
Trong chăn nuôi ngựa và gia súc, giúp tăng trọng nhanh từ 18 – 20%, cao hơn so với nhóm đối chứng, tăng năng suất sữa từ 5 -10%. Còn trong chăn nuôi gia cầm, gà đẻ ăn phụ gia đất hiếm sẽ tăng lượng trứng lên 10 -20%, làm cho gà đẻ sớm hơn từ 3 -10 ngày theo chu kỳ.
Ngoài ra, sử dụng phụ gia đất hiếm trong nuôi trồng thủy sản cũng sẽ làm tăng tỷ lệ sống của thủy cần, giúp tăng trọng nhanh, các nghiên cứu thử nghiệm dùng phụ gia đất hiếm trong chăn nuôi tôm, cá, sò, trai cho thấy sản phẩm có khả năng kích thích sự phát triển của nhiều enzim, đẩy mạnh sức đề kháng với bệnh tật, giúp nâng cao quá trình hấp thụ thức ăn, tăng tỷ lệ sống và làm chon các loài nhuyễn thể lớn nhanh, cải thiện màu của ngọc trai.
Phụ gia đất hiếm có những tác dụng sau đây đối với thủy cầm:
– Dùng cho cá: Tăng lượng cá nuôi, nâng cao tỷ lệ sống và tăng trọng đáng kể
– Dùng cho tôm: Tăng tỷ lệ sống 15% so với nhóm đối chứng
– Dùng cho nuôi cấy trai: Đẩy mạnh khả năng đề kháng của nhuyễn thể làm cho màu ngọc trai rực rỡ hơn.
Theo Viện Công Nghệ xạ hiếm, phụ gia đất hiếm dùng cho chăn nuôi đã trải qua quá trình nghiên cứu, thí nghiệm và khảo nghiệm trên thực tế. Cơ quan này và các nhà khoa học chế tạo ra sản phẩm này đang muốn chuyển giao công nghệ, sản phẩm này theo phương thức thương mại hóa, giúp cho bà con nông dân Việt Nam chăn nuôi năng suất hơn.
Được biết, hiện nhu cầu sử dụng đất hiếm trên thế giới ngày càng tăng, nhất là tại các nước công nghiệp như Mỹ, Nhật Bản, trong khi đó, nguồn tài nguyên đất hiếm của Việt Nam vẫn được bảo tồn nguyên vẹn, gồm các mạch đá ở miền Bắc và các đới quặng ngoại sinh dễ khai thác ở miền Nam.

Hà Giang: Hiệu quả mô hình nuôi gà Ri thả đồi ở Phương Thiện18/08/2021Thời gian qua, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Phương...
18/08/2021

Hà Giang: Hiệu quả mô hình nuôi gà Ri thả đồi ở Phương Thiện
18/08/2021
Thời gian qua, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Phương Thiện (thành phố Hà Giang) đã phát huy lợi thế vườn đồi để đầu tư phát triển nuôi gà Ri kết hợp trồng cây ăn quả và thực hiện theo hướng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao.Gia đình anh Nguyễn Thành Lân, thôn Tiến Thắng và 7 hộ dân khác đã cùng tham gia dự án chuỗi liên kết phát triển chăn nuôi gà Ri thả đồi. Các hộ được nhà nước hỗ trợ gà giống, thuốc phòng trừ dịch bệnh, dịch vụ thức ăn chăn nuôi, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc. Anh Lân cho biết, trước đây anh và bà con trong thôn chủ yếu chăn nuôi theo quy mô nhỏ lẻ, thiếu kiểm soát dịch bệnh, sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu gia đình là chính, hiệu quả kinh tế thấp. Sau khi tham gia chuỗi liên kết anh được tập huấn, hướng dẫn cách chăm sóc cho nên hiệu quả kinh tế cao. Gà được thả đồi nên ngoài việc cho ăn ngô, cám, chuối thì còn tận dụng được nguồn thức ăn tươi là các loại côn trùng và cây cỏ tự nhiên, dịch bệnh ít xảy ra và chi phí đầu tư cũng ít hơn gà nuôi nhốt, chất lượng thịt chắc và ngon, được thị trường ưa chuộng.
Bình quân mỗi năm anh Lân nuôi 2 lứa gà, mỗi lứa khoảng 400 – 500 con nên lúc nào gia đình anh cũng có gà thịt thương phẩm để bán ra thị trường. Thời gian nuôi kéo dài từ 4 – 5 tháng gà sẽ đạt trọng lượng từ 1,8 – 2,2 kg; chất lượng thịt được khẳng định khiến đầu ra thuận lợi, thu hút được nhiều thương lái đến mua, giá gà ở mức 100 nghìn/kg. Ngoài nuôi gà Ri thả đồi, gia đình anh Lân còn nuôi gần 1.000 con cá các loại, 300 con ếch, kết hợp trồng cây ăn quả, giúp đời sống ngày càng được cải thiện.
Chia sẻ về kinh nghiệm chăn nuôi, bà Nguyễn Thị Dán (mẹ anh Lân) cho biết: “Gà Ri là giống dễ nuôi nhưng cũng dễ mắc bệnh, ngoài việc chăm sóc và cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, định kỳ phải bổ sung các vitamin và chất khoáng phòng bệnh, ngay từ lúc mới mua gà giống về phải tiêm phòng thường xuyên, hàng ngày đều phải vệ sinh máng ăn, máng uống, kiểm tra lượng thức ăn đảm bảo đủ để gà không tranh giành lẫn nhau. Hiện, gia đình chỉ còn khoảng 100 con gà Ri trọng lượng trên 1,8 kg, cho nên gia đình tiếp tục mua hơn 200 con gà giống, nuôi lứa tiếp theo”.
Chị Hoàng Thị Tuyến, cán bộ Nông, lâm nghiệp xã Phương Thiện chia sẻ: UBND xã thường xuyên phối hợp với cán bộ chuyên môn Trạm Chăn nuôi – Thú y thành phố kiểm tra, đôn đốc các hộ chăn nuôi thực hiện dự án. Triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi gà Ri quy mô lớn và thu hút doanh nghiệp đầu tư, liên kết phát triển chăn nuôi trên địa bàn. Ngoài ra, cán bộ kỹ thuật còn hướng dẫn trực tiếp cho các hộ cách chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi.

Giá lợn hơi có xu hướng tăng16/08/2021Ngày 15-8, kết thúc một tuần giá lợn hơi có nhiều biến động. So với tuần trước, tạ...
17/08/2021

Giá lợn hơi có xu hướng tăng
16/08/2021
Ngày 15-8, kết thúc một tuần giá lợn hơi có nhiều biến động. So với tuần trước, tại miền Bắc, giá lợn hơi tăng 1.000-4.000 đồng/kg, các thương lái thu mua trong khoảng 54.000-57.000 đồng/kg. Tại Hà Nội và các tỉnh: Lào Cai, Thái Bình, Bắc Giang… tăng 2.000 đồng/kg, dao động trong khoảng 55.000-56.000 đồng/kg.Tại tỉnh Tuyên Quang, giá tăng mạnh 4.000 đồng/kg, lên 55.000 đồng/kg; tỉnh Hưng Yên tăng 3.000 đồng/kg, có giá cao nhất khu vực (57.000 đồng/kg). Miền Trung – Tây Nguyên, giá lợn hơi tăng nhẹ 1.000-2.000 đồng/kg, hiện được các thương lái thu mua trong khoảng 53.000-55.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi đang được thu mua thấp nhất cả nước, ổn định trong tuần qua, giá dao động trong khoảng 52.000-53.000 đồng/kg.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thịt lợn xuất chuồng đạt hơn 2 triệu tấn, tăng 11,6%. Dự báo, trong quý III-2021, sản lượng thịt lợn đạt khoảng 884 nghìn tấn, tăng 4,5%. Mặc dù quy mô chăn nuôi lợn của Việt Nam đã gần phục hồi bằng mức trước khi xảy ra bệnh Dịch tả lợn châu Phi, nhưng để bảo đảm nguồn cung – cầu trong nước, Việt Nam sẽ tiếp tục nhập khẩu thịt lợn.
Hiện nay, bệnh Dịch tả lợn châu Phi tiếp tục xuất hiện ở một số tỉnh như Lào Cai, Cà Mau… Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn yêu cầu các địa phương triển khai hiệu quả biện pháp phòng, chống dịch như: Khuyến cáo người dân khi nhập con giống về nuôi phải khai báo với chính quyền địa phương, nếu không khai báo khi xảy ra dịch sẽ không được hỗ trợ; trước khi nuôi, phải tiến hành tổng vệ sinh môi trường xung quanh, chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học để hạn chế dịch bệnh phát sinh…

Duy trì hiệu suất tiêu hóa của đường ruột là mục tiêu của hầu hết của các chủ trại chăn nuôi gà. các biện pháp nhằm bảo ...
14/08/2021

Duy trì hiệu suất tiêu hóa của đường ruột là mục tiêu của hầu hết của các chủ trại chăn nuôi gà. các biện pháp nhằm bảo vệ đường ruột và điều chế vi sinh vật có lợi cho hệ tiêu hóa ngày càng được chú trọng thay cho các giải pháp đến từ kháng sinh.
http://nhachannuoi.vn/ba-cach-de-toi-uu-hoa-chi-phi-thuc.../

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giới Thiệu Khuyến Mãi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category