28/11/2022
Kho bạc Nhà nước Việt Nam phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
rong chặng đường 30 năm hình thành và phát triển, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã từng bước hoàn thiện các chức năng, nhiệm vụ, phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả để đóng góp một phần vào lịch sử 75 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Tài chính Việt Nam (28/8/1945-28/8/2020). Ba thập niên qua, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã từng bước hoàn thiện các chức năng, nhiệm vụ, phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả để cùng ngành Tài chính vượt qua khó khăn, huy động, phân bổ và quản lý hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ cho công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Những điểm sáng trong xây dựng hệ thống Kho bạc phát triển hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Tiền thân là Nha Ngân Khố được thành lập từ những năm đầu khi Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được khai sinh và sau đó, được tái thành lập trực thuộc Bộ Tài chính từ ngày 01/4/1990, đến nay, sau 30 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã từng bước đổi mới và phát triển theo hướng ngày càng hiện đại; đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, công khai, minh bạch.
Từ năm 2007, với việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 theo Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ, các hoạt động cải cách, hiện đại hóa đã được đẩy mạnh toàn diện trong hệ thống KBNN, đồng bộ trên các mặt (cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và công nghệ quản lý). Từ đó, KBNN đã hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chức năng được giao như: Quản lý quỹ ngân sách nhà nước (NSNN), quản lý ngân quỹ, huy động vốn, tổng kế toán nhà nước và hình thành Kho bạc điện tử.
Về quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước
Đặc biệt, việc triển khai thành công Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) trong toàn hệ thống Kho bạc đã giúp gắn kết các khâu của quy trình quản lý NSNN, đặc biệt là giữa khâu thực hiện với các khâu khác của quy trình quản lý; cải cách công tác kế toán NSNN, chuyển từ kế toán tiền mặt sang kế toán tiền mặt điều chỉnh; đồng thời, hỗ trợ các bộ, ngành trong việc phân bổ NSNN.
Trong công tác thu NSNN, KBNN đã phối hợp với cơ quan thuế, hải quan triển khai thành công Dự án “Hiện đại hóa quy trình thu nộp thuế giữa Thuế - Hải quan – KBNN”; Dự án tổ chức phối hợp thu NSNN giữa các cơ quan trong ngành Tài chính với các ngân hàng thương mại…; Trên cơ sở đó, kết nối, trao đổi dữ liệu thu NSNN điện tử với các cơ quan liên quan, mở rộng mạng lưới tài khoản chuyên thu của KBNN tại ngân hàng thương mại và đa dạng hóa phương thức thanh toán trong thu nộp NSNN (Internet banking, ATM, thiết bị chấp nhận thẻ POS/EDC…).
Đến nay, các giao dịch thu nộp NSNN đã có thể được thực hiện tại bất kỳ địa điểm, thời gian nào, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, tập trung nhanh các nguồn thu và giảm thiểu đáng kể chi phí tổ chức thu NSNN. Từ 30 phút/giao dịch, thời gian thực hiện giao dịch thu nộp NSNN giảm còn 5 phút/giao dịch, trong khi quy mô thu ngân sách tăng gần 4 lần so với giai đoạn 2001 - 2010; trong đó, gần 100% số thu được thực hiện qua ngân hàng, góp phần tích cực vào phát triển thanh toán không dùng tiền mặt theo chủ trương của Chính phủ.
Trong công tác kiểm soát chi NSNN, KBNN đã xây dựng và triển khai quy trình kiểm soát cam kết chi qua KBNN, đảm bảo các khoản chi NSNN được thực hiện đúng thẩm quyền và trong phạm vi nguồn lực được phân bổ, góp phần nâng cao kỷ cương, kỷ luật tài chính và ngăn chặn nợ đọng. Cơ chế, quy trình kiểm soát chi NSNN được hoàn thiện theo hướng ngày càng đơn giản, rõ ràng, minh bạch; phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị; từng bước chuyển từ kiểm soát trước, thanh toán sau sang thanh toán trước, kiểm soát sau.
Kết quả là đã rút ngắn thời gian kiểm soát chi đầu tư (từ 7 ngày xuống còn từ 1 đến 3 ngày làm việc); bước đầu thực hiện kiểm soát chi theo rủi ro căn cứ vào giá trị của khoản chi; kiểm soát chi theo cơ chế khoán chi; thực hiện quy trình kiểm soát chi một cửa... Bên cạnh đó, KBNN đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KBNN, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính. Từ năm 2007 đến nay, KBNN đã phát hiện hàng chục nghìn khoản chi chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định; số tiền KBNN từ chối thanh toán trong giai đoạn 2007 - 2019 là trên 3.500 tỷ đồng (tương ứng với gần 509.000 món).
Về quản lý ngân quỹ và huy động vốn cho NSNN
Căn cứ Luật NSNN, KBNN đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành Nghị định số 24/2016/NĐ-CP ngày 5/4/2016 quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động cải cách quản lý ngân quỹ theo hướng an toàn và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tài khoản thanh toán tập trung của KBNN được hình thành, tập trung toàn bộ số dư ngân quỹ từ địa phương về trung ương và gửi tại Ngân hàng Nhà nước, một mặt giúp cho việc điều hành thanh khoản ngân quỹ nhà nước; mặt khác, hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường ngoại hối.
Các công cụ dự báo luồng tiền, phương án điều hành ngân quỹ nhà nước, các công cụ đầu tư ngân quỹ nhà nước (tạm ứng ngân quỹ, tiền gửi có kỳ hạn) được xây dựng và triển khai. Trong đó, nguồn ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được sử dụng để tạm ứng cho ngân sách trung ương khi nguồn thu có khó khăn, hỗ trợ các địa phương đẩy nhanh tiến độ của các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn, đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Công tác quản lý ngân quỹ theo đó từng bước gắn kết chặt chẽ với công tác quản lý NSNN và quản lý nợ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính và giảm thiểu chi phí vay nợ cho NSNN.
Công tác huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua phát hành trái phiếu chính phủ cũng được hiện đại hóa theo thông lệ quốc tế, công khai, minh bạch; đồng thời, được gắn kết chặt chẽ với tái cơ cấu danh mục nợ Chính phủ theo hướng bền vững, an toàn và giảm thiểu rủi ro đảo nợ của NSNN. Kết quả, khối lượng phát hành trái phiếu chính phủ đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN; kỳ hạn bình quân danh mục nợ trái phiếu chính phủ được kéo dài từ mức 1,84 năm (năm 2011) lên mức 7,83 năm vào cuối tháng 7/2020; lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ bám sát diễn biến thị trường và giảm dần (mặt bằng lãi suất đã giảm từ mức bình quân khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2007 - 2011 xuống còn 2,96%/năm vào cuối tháng 7/2020), giảm chi phí trả lãi cho NSNN; cơ cấu nhà đầu tư được cải thiện, giảm dần sự phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, thị trường bước đầu đã có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài (năm 2019, tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trái phiếu chính phủ chiếm 6,1% dư nợ). Sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ đã có những ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước theo mục tiêu Chiến lược tài chính đến năm 2020.
Về kế toán nhà nước và báo cáo
Về cơ bản, hệ thống kế toán nhà nước thống nhất đã được xây dựng; theo đó, thống nhất về việc hạch toán theo mục lục NSNN, nguyên tắc ghi chép kế toán đối với các nghiệp vụ phát sinh tại các chế độ kế toán khác nhau, cách thức trình bày các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán. Cùng với việc triển khai hệ thống TABMIS, chế độ kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN cũng như hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quản trị và phương pháp hạch toán kế toán áp dụng thống nhất cho cơ quan, đơn vị tham gia vào TABMIS cũng đã được xây dựng và hoàn thiện; từ đó, đảm bảo khả năng cung ứng thông tin đầy đủ, kịp thời, phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành NSNN của cơ quan tài chính và chính quyền các cấp.