Bất Động Sản Hoà Bình

Bất Động Sản Hoà Bình - Tư vấn thủ tục pháp lý BĐS
- Chuyên Đất thổ cư, trang trại, nhà vườn, nghỉ dưỡng.
(267)

Luật Đất đai 2024, có hiệu lực từ 1/1/2025 quy định Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản...
01/10/2025

Luật Đất đai 2024, có hiệu lực từ 1/1/2025 quy định Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ) với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ mà không vi phạm pháp luật, không thuộc trường hợp được giao đất sai thẩm quyền.
Ba trường hợp đầu tiên được cấp sổ đỏ là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước 18/12/1980; từ 18/12/1980 đến trước 15/10/1993; từ 15/10/1993 đến trước 1/7/2014. Điều kiện là đất được UBND xã xác nhận không có tranh chấp.
Với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích toàn bộ thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức quy định thì được cấp sổ với diện tích bằng hạn mức đất ở. Nếu diện tích đất đã xây dựng nhà ở, công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức sẽ được cấp sổ đỏ theo diện tích thực tế đã xây.
Thửa đất có nhà ở, công trình phục vụ đời sống, diện tích nhỏ hơn hạn mức thì được cấp sổ đỏ toàn bộ thửa đất đó.
Thửa đất dùng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì cấp sổ đỏ theo diện tích thực tế đã sử dụng, thời hạn lâu dài.
Khu đất gần 38 ha từng được thành phố Đà Nẵng làm trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06, bỏ hoang 10 năm, đến nay chưa được cấp sổ đỏ. Ảnh: Nguyễn Đông
Diện tích đất vượt hạn mức, nếu là đất phi nông nghiệp, không phải đất ở thì được cấp sổ đỏ vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Nếu diện tích vượt hạn mức là đất nông nghiệp, sẽ được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Trường hợp người sử dụng đất muốn được cấp sổ đỏ vào mục đích phi nông nghiệp với phần diện tích này, nếu phù hợp quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu, xây dựng, nông thôn, thì sẽ được đáp ứng.
Trong cả ba trường hợp nêu trên, người sử dụng đất khi được cấp sổ đỏ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.
Thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân sử dụng chung thì cấp sổ đỏ tính theo tổng hạn mức đất ở của những người này. Nếu một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở, công trình phục vụ đời sống, được UBND cấp xã xác nhận ổn định trước ngày 15/10/1993, thì hạn mức tính theo từng thửa đất.
Trường hợp bốn, hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp nhưng đã dùng làm đất ở, đất phi nông nghiệp trước 1/7/2014 mà không có giấy tờ, cũng được cấp sổ đỏ. Quy định này chỉ áp dụng với chủ đất có đăng ký thường trú tại địa phương điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, được UBND xã xác nhận không có tranh chấp.
Trường hợp năm, hộ gia đình sử dụng đất ổn định vào mục đích nông nghiệp, được UBND xã xác nhận không có tranh chấp, cũng được cấp sổ đỏ theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền. Phần diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê của Nhà nước.
Còn lại, những hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ mà chưa đủ điều kiện cấp sổ đỏ theo các trường hợp nêu trên, được tạm thời sử dụng theo hiện trạng đến khi Nhà nước thu hồi.
Luật quy định, Nhà nước có trách nhiệm cấp sổ đỏ cho các trường hợp đã đăng ký và đủ điều kiện. Chính phủ sẽ quy định chi tiết trình tự cấp sổ đỏ với đất không giấy tờ.
Luật mới đã mở rộng diện cấp sổ đỏ cho đất không giấy tờ thêm 10 năm so với luật cũ (2014 thay vì 2004) và bổ sung các trường hợp đất nông nghiệp không có giấy tờ.
Luật Đất đai 2013 quy định, đất không giấy tờ trước 1/7/2004 được cấp sổ đỏ, điều kiện là sử dụng ổn định và không vi phạm, không tranh chấp, phù hợp quy hoạch địa phương.
Đất không giấy tờ trước 1/7/2014 chỉ được cấp sổ đỏ ở những nơi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn và chủ đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
Đồng tình mở rộng diện cấp sổ đỏ cho đất không có giấy tờ, Hiệp hội Bất động sản TP HCM (HoREA), đánh giá việc này vừa đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người sử dụng đất, vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước.
HoREA dẫn chứng, tại TP HCM, việc cấp sổ đỏ đã đạt 99% nhưng vẫn còn một số hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp sổ đỏ dù đã sử dụng đất ổn định lâu đời hàng chục, trăm năm. Nguyên nhân bởi người dân không có giấy tờ đất và cũng không có nhu cầu xin cấp sổ đỏ.
Vì vậy, HoREA cho rằng, việc mở rộng diện cấp sổ đỏ cho đất không giấy tờ và quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc này sẽ nâng cao chất lượng quản lý đất đai.

Một ngày, khi muốn tách  đất cho con hoặc khi Nhà nước thu hồi đất mới xuất trình thì nhận ra trên sổ chỉ có 200m2 – 300...
01/10/2025

Một ngày, khi muốn tách đất cho con hoặc khi Nhà nước thu hồi đất mới xuất trình thì nhận ra trên sổ chỉ có 200m2 – 300 m2 đất ở, phần còn lại là đất vườn, ao. Với sổ đỏ ghi nhận như vậy tách sổ cho con không được vì phần tách ra không kèm đất ở hoặc khi Nhà nước thu hồi sẽ chỉ được bồi thường giá đất nông nghiệp rất thấp.
Dân tình giật mình “tá hỏa tam tinh” nghĩ bị thiệt mà không biết cách nào gỡ được. Với câu hỏi này, Luật sư Quách Thành Lực – Giám đốc Công ty luật Pháp Trị, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội chia sẻ như sau:
Việc cấp giấy chứng nhận giai đoạn trước đây được cấp theo từng đợt, đại trà, phát động triển khai như một phong trào để lấy thành tích thi đua tại các địa phương. Bởi vậy, quy trình đo vẽ, khảo sát, xét duyệt, ghi nhận các thông số diện tích, loại đất không chuẩn, không sát thực tế từng thửa đất.
Các địa phương căn cứ vào hạn mức giao đất ở phổ biến cho hộ gia đình cá nhân là từ 200 m2 – 300 m2 để khi cấp sổ mặc định ghi nhận vào hầu hết các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao cho dân. Bởi vậy, việc cấp Giấy chứng nhận không sát với thực tế từng thửa đất, từng thời điểm sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.
Khi quyền lợi bị ảnh hưởng, người sử dụng đất có quyền đề nghị, kiến nghị cơ quan chức năng cấp đổi, cấp bổ sung, công nhận lại diện tích đất ở trong sổ cho khớp với thực tế sử dụng, thời điểm sử dụng. Nếu UBND cấp xã có Biên bản xác nhận có nguồn gốc sử dụng đất có nhà ở ổn định trước ngày 18/12/1980, quá trình sử dụng không tranh chấp, lấn chiếm; sổ mục kê lập theo hồ sơ 299/TTg thể hiện toàn bộ đất là loại đất thổ cư thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình cần được cơ quan chức năng cấp lại cho đúng thực tế. Lúc này toàn bộ thửa đất sẽ đủ điều kiện công nhận là đất ở.
Ngoài ra nếu không thuộc trường hợp trên thì gia đình căn cứ quy định “Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này mà trong giấy tờ đó chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất bằng diện tích thực tế của thửa đất đối với trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn 05 lần hạn mức giao đất ở, bằng 05 lần hạn mức giao đất ở đối với trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai” theo khoản 3, điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
Với quy định này khi cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, người sử dụng đất sẽ tăng được diện tích đất ở lên đến 5 lần mà không phải nộp tiền sử dụng đất do thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao thành đất ở.
Khi Giấy chứng nhận đã được cấp đổi, cấp bổ sung, công nhận đất ở như trên, quyền lợi của người dân sẽ được đảm bảo, không còn bị ảnh hưởng, thiệt hại khi tách thửa đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Trên thực tế có nhiều trường hợp người dân vận dụng hiểu biết pháp luật này đã triển khai và bảo vệ được tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Chuyện đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm và phức tạp trong cuộc sống, đặc biệt là khi liên quan đến các di sản của cha ông...
29/09/2025

Chuyện đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm và phức tạp trong cuộc sống, đặc biệt là khi liên quan đến các di sản của cha ông để lại. Một trong những câu hỏi phổ biến mà nhiều người dân đặt ra là liệu đất đai mà cha ông để lại, nhưng không có di chúc, có thể làm được sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hay không? Câu trả lời phụ thuộc vào các quy định pháp lý hiện hành và cách thức phân chia tài sản khi không có di chúc.
1. Quy định pháp lý về quyền sở hữu đất đai:
Theo pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu đất đai là quyền tài sản của cá nhân, tổ chức, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay còn gọi là sổ đỏ). Đất đai có thể được chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế hoặc cho mượn, thuê, căn cứ vào các quy định cụ thể của pháp luật.
Khi một người qua đời mà không để lại di chúc, di sản của họ, bao gồm quyền sử dụng đất, sẽ được phân chia theo pháp luật. Điều này có nghĩa là quyền sở hữu và quyền sử dụng đất sẽ được chuyển nhượng cho các thành viên trong gia đình, theo thứ tự và tỷ lệ quy định tại Bộ luật Dân sự.
Khi người sở hữu đất đai qua đời mà không để lại di chúc, tài sản sẽ được phân chia theo pháp luật, bao gồm đất đai. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, nếu người chết không để lại di chúc, di sản sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật.
Cụ thể, những người thừa kế theo pháp luật bao gồm:
* Hàng thừa kế thứ nhất: Cha mẹ, vợ/chồng, con cái.
* Hàng thừa kế thứ hai: Ông bà, anh chị em ruột của người chết, cháu nội, cháu ngoại.
Đối với đất đai, nếu là đất ở, việc chia thừa kế có thể gặp khó khăn khi một mảnh đất chỉ có thể cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một người. Trường hợp này, các thừa kế sẽ phải thỏa thuận với nhau về việc chia đất hoặc quyết định chuyển nhượng, tặng cho hoặc bán lại quyền sử dụng đất.
Khi đã xác định được những người thừa kế hợp pháp và phần chia tài sản, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) sẽ phụ thuộc vào các bước sau:
* Bước 1: Chứng minh quyền sở hữuThực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thông qua Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường). Các thừa kế cần chuẩn bị các giấy tờ như: Giấy chứng tử của người để lại di sản, các giấy tờ chứng minh mối quan hệ thừa kế, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất như sổ sách, hợp đồng mua bán, hay quyết định cấp đất từ cơ quan có thẩm quyền (nếu có).
* Bước 2: Thỏa thuận phân chia di sảnCác thừa kế sẽ cần thỏa thuận về phần tài sản thuộc quyền sử dụng đất. Nếu có tranh chấp, các bên có thể yêu cầu sự giải quyết của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.
* Bước 3: Đăng ký quyền sử dụng đấtSau khi các thừa kế hoàn tất thủ tục thỏa thuận hoặc phân chia tài sản hợp pháp, họ có thể tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mỗi thừa kế có thể yêu cầu cấp sổ đỏ cho phần đất mà mình sở hữu hoặc hợp nhất quyền sử dụng đất cho một cá nhân, tùy vào thỏa thuận giữa các thừa kế.
Một số lưu ý quan trọng khi làm Sổ đỏ cho đất thừa kế mà không có di chúc:
* Có thể xảy ra tranh chấp: Khi không có di chúc, việc phân chia di sản sẽ không rõ ràng và có thể dẫn đến tranh chấp giữa các thừa kế. Việc này có thể gây chậm trễ trong việc cấp sổ đỏ.
* Giải quyết tranh chấp: Nếu không thể thỏa thuận với nhau, các bên có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa sẽ căn cứ vào quy định pháp luật để phân chia tài sản, và sau khi có quyết định của tòa án, việc cấp sổ đỏ sẽ được tiến hành.
* Cần có sự đồng thuận: Để cấp sổ đỏ, cần có sự đồng thuận của tất cả các thừa kế hoặc giấy ủy quyền hợp pháp nếu một số thừa kế không thể tham gia trực tiếp.
Vậy, đất đai mà cha ông để lại mà không có di chúc vẫn có thể làm Sổ đỏ, nhưng quá trình này có thể gặp một số khó khăn trong việc xác định quyền thừa kế và phân chia tài sản. Các thừa kế cần tuân thủ đúng quy định pháp luật, thực hiện thủ tục theo đúng quy trình và có sự thỏa thuận giữa các bên liên quan để tránh tranh chấp. Trong trường hợp có mâu thuẫn, các bên có thể nhờ đến sự can thiệp của cơ quan pháp luật để giải quyết.
Quyền sở hữu đất đai là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy, nếu có thể, các gia đình nên chuẩn bị di chúc để tránh những rắc rối pháp lý và đảm bảo quyền lợi của các thành viên thừa kế.

Người sử dụng đất nên nắm rõ thời gian sang tên sổ đỏ trong mọi trường hợp, từ cấp mới sổ đỏ, chuyển nhượng quyền sử dụn...
28/09/2025

Người sử dụng đất nên nắm rõ thời gian sang tên sổ đỏ trong mọi trường hợp, từ cấp mới sổ đỏ, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp lại sổ đỏ…
Dưới đây là chi tiết thời gian đăng ký thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận, theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP):
+ Trường hợp đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) thời gian cấp không quá 30 ngày.
+ Trường hợp đăng ký, cấp sổ đỏ cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng là không quá 15 ngày.
+ Trường hợp đăng ký, cấp sổ đỏ khi thay đổi tài sản gắn liền với đất là không quá 15 ngày.
+ Trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, nhóm người sử dụng đất là, thời gian cấp sổ đỏ không quá 10 ngày.
+ Trường hợp tách thửa, hợp thửa đất; thủ tục đăng ký đất đai đối với trường hợp được Nhà nước giao đất để quản lý, thời gian cấp sổ đỏ là không quá 15 ngày.
+ Gia hạn sử dụng đất là không quá 7 ngày.
+ Xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi hết hạn sử dụng đất là không quá 5 ngày.
+ Đăng ký xác lập hoặc thay đổi, chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề là không quá 10 ngày.
+ Đăng ký biến động do đổi tên người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích, số hiệu, địa chỉ thửa đất … không quá 10 ngày.
+ Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là không quá 10 ngày.
+ Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng là không quá 5 ngày.
+ Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng bị mất là không quá 10 ngày.

Theo ông Nguyễn Thế Điệp – Phó Chủ tịch Câu lạc bộ  Bất động sản Hà Nội, Luật Đất đai 2024 đã tạo ra hành lang pháp lý đ...
28/09/2025

Theo ông Nguyễn Thế Điệp – Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Bất động sản Hà Nội, Luật Đất đai 2024 đã tạo ra hành lang pháp lý đột phá cho đất nông nghiệp. Theo đó, khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi nếu có đủ điều kiện bồi thường thì có thể được bồi thường bằng nhà ở.
Theo quy định tại Điều 74, Điều 77 Luật Đất đai năm 2013, hiện nay, hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ được bồi thường về đất bằng đất nông nghiệp hoặc tiền (trong trường hợp không có đất nông nghiệp để bồi thường).
Đồng thời, Khoản 6 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định, người bị thu hồi đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường mà có nhu cầu bồi thường bằng đất ở/nhà ở và địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, nhà ở thì được bồi thường bằng giao đất ở/nhà ở tái định cư.
Tuy nhiên, đối chiếu với nguyên tắc bồi thường về đất tại khoản 2 Điều 91 Luật Đất đai 2024, vẫn sẽ ưu tiên bồi thường bằng đất nông nghiệp hoặc tiền.
Nếu được bồi thường bằng đất, bằng nhà ở mà có nhu cầu được bồi thường bằng tiền thì được bồi thường bằng tiền theo nguyện vọng nhưng phải đăng ký khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Nói tóm lại, sau khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực người có đất nông nghiệp bị thu hồi có khả năng được bồi thường bằng đất ở, nhà ở (hiện nay chỉ quy định bồi thường bằng đất nông nghiệp hoặc tiền).
Theo Điều 95 Luật Đất đai 2024, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi đất được bồi thường về đất khi đáp ứng các điều kiện như đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm.
Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất/giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở/giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất/giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Đầu tư đất nông nghiệp chờ đền bù. Ảnh: Minh Hạnh�Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Có quyết định giao đất/quyết định cho thuê đất/quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai…

Theo quy định tại Luật Đất đai 2024, nếu xin cấp sổ đỏ lần đầu không yêu cầu diện tích tối thiểu nhưng cần đáp ứng đủ cá...
26/09/2025

Theo quy định tại Luật Đất đai 2024, nếu xin cấp sổ đỏ lần đầu không yêu cầu diện tích tối thiểu nhưng cần đáp ứng đủ các điều kiện cấp sổ đỏ từng trường hợp dưới đây:
Trường hợp 1: Đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất (Điều 137 luật này).
Trường hợp 2: Đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất không vi phạm quy định về đất đai hoặc không thuộc trường hợp đất giao không đúng thẩm quyền (Điều 138 luật này).
Trường hợp 3: Cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền (Điều 140 luật này).
Diện tích tối thiểu cấp mới sổ đỏ do tách thửa
Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, diện tích tối thiểu là diện tích mà thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại sau khi tách thửa không được phép nhỏ hơn.
Điều kiện để tách thửa gồm, diện tích tối thiểu được phép tách thửa và chiều cạnh thửa đất.
Hiện, diện tích tối thiểu để được phép tách thửa làm sổ đỏ mới sẽ tương ứng với từng loại đất, điều kiện cụ thể của địa phương và do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quy định.
Trường hợp thửa đất dự định tách thửa nhưng không đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu vẫn được phép tách thửa nếu phần diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu xin hợp thửa với thửa đất khác, cụ thể:
Theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP: “Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới”.
Sau khi Luật Đất đai 2024 chính thức có hiệu lực từ 1/8, đến nay, Hà Nội, Bắc Giang, Thanh Hoá… và nhiều địa phương đã ban hành quy định về tách thửa đất với nhiều thay đổi về diện tích tối thiểu đối với từng loại đất.
Tại Hà Nội , UBND TP mới đây ban hành quyết định số 61 quy định các nội dung quan trọng liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố.
Một trong những điểm đáng chú ý của quyết định này là điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa, hợp thửa đất.
Theo đó, từ 7/10, về tách thửa đất ở, tại các phường, thị trấn, diện tích nằm ngoài đường giao thông, công trình hạ tầng kỹ thuật, không gian công cộng, thửa đất sau khi tách không nhỏ hơn 50m2 (tăng 20m2 so với quy định hiện hành), chiều dài trên 4m và chiều rộng giáp đường giao thông từ 4m trở lên.
Với các xã vùng đồng bằng, diện tích sau tách thửa tối thiểu là 80m2, các xã vùng trung du 100m2, còn các xã miền núi tối thiểu 150m2.
Với đất phi nông nghiệp, quy định áp dụng cho các thửa đất không thuộc trường hợp được Nhà nước giao hoặc cho thuê để thực hiện dự án. Tại phường, thị trấn, đất thương mại dịch vụ phải có chiều rộng giáp đường giao thông từ 10m trở lên, diện tích tối thiểu 400m2. Với các loại đất phi nông nghiệp khác, thửa đất phải có chiều rộng trên 20m, diện tích tối thiểu 1.000m2.
Tại các xã, đất thương mại dịch vụ phải có diện tích không dưới 800m2 và đất phi nông nghiệp khác không dưới 2.000m2.
Với đất nông nghiệp, diện tích tối thiểu với đất trồng cây hàng năm là 300m2 tại phường, thị trấn và 500m2 tại các xã; đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản lần lượt 500m2 tại phường, thị trấn và 1.000m2 tại các xã. Đất rừng sản xuất được tách thửa nếu diện tích không dưới 5.000m2.
Tại Bà Rịa – Vũng Tàu , từ ngày 16/9, áp dụng tại khu vực thuộc phường, thị trấn và huyện Côn Đảo có diện tích và kích thước thửa đất: từ 60m2 trở lên và có cạnh tiếp giáp với đường giao thông do Nhà nước quản lý hoặc lối đi được kết nối với đường giao thông do Nhà nước quản lý không nhỏ hơn 5m và chiều sâu thửa đất không nhỏ hơn 5m.
Tại địa bàn các xã còn lại có diện tích và kích thước thửa đất: từ 80m2 trở lên và có cạnh tiếp giáp với đường giao thông do Nhà nước quản lý hoặc lối đi được kết nối với đường giao thông do Nhà nước quản lý không nhỏ hơn 5m và chiều sâu thửa đất không nhỏ hơn 5m.
Tại Thanh Hóa , từ 1/10, đối với đất ở tại đô thị, diện tích thửa đất được tách thửa phải đảm bảo thửa đất còn lại và các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa có diện tích 40m2 và kích thước cạnh tối thiểu là 3m.
Riêng địa bàn phường Hải Thanh thuộc thị xã Nghi Sơn diện tích tối thiểu sau khi tách thửa là 30m2, kích thước cạnh 3m.
Còn với đất ở nông thôn, diện tích thửa đất được tách thửa phải đảm bảo thửa đất còn lại và các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa có diện tích 50m2 và kích thước cạnh tối thiểu là 4m.
Riêng địa bàn xã Nghi Sơn thuộc thị xã Nghi Sơn, xã Ngư Lộc thuộc huyện Hậu Lộc, xã Quảng Nham thuộc huyện Quảng Xương diện tích tối thiểu sau tách thửa là 30m2, kích thước cạnh 3m.
Trường hợp tách thửa đất ở và đất khác trong cùng thửa đất ở phải đảm bảo thửa đất còn lại và các thửa đất được hình thành sau khi tách thửa có diện tích đất ở đảm bảo điều kiện diện tích tối thiểu trên.
Tại Bình Định , từ 15/8, thửa đất ở sau khi tách thửa phải đảm bảo diện tích và kích thước tối thiểu như sau:
Đất ở tại đô thị là 40 m2, kích thước chiều rộng (mặt tiền) và chiều dài (chiều sâu) thửa đất tối thiểu 03 m;
Đất ở tại nông thôn là 50 m2, kích thước chiều rộng (mặt tiền) và chiều dài (chiều sâu) thửa đất tối thiểu 04 m.
Tại Bắc Giang , từ 21/9, muốn tách thửa đất ở phải có diện tích đất tối thiểu 32m2 thuộc các phường của TP Bắc Giang và đất ở đô thị tại các thị trấn, các thị trấn chuyển thành phường và tại các thị xã.
Bên cạnh đó, diện tích tối thiểu 50m2 tại các xã thuộc địa giới hành chính huyện, thị xã chuyển thành phường, thị trấn do thành lập mới, chia tách, sáp nhập địa giới hành chính.
Các thửa đất trên phải có kích thước mặt tiền tối thiểu là 4m, chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nếu có tối thiểu 5,5m, đối với thửa đất gốc có chiều sâu hiện hữu từ 5,5m trở lên.
Với thửa đất sau khi Nhà nước thu hồi đất, thửa đất có chiều sâu hiện hữu nhỏ hơn 5,5m thì chiều sâu tối thiểu phải đảm bảo 3m.
Đối với đất ở không thuộc các trường hợp trên, thì thửa đất sau khi tách thửa phải có diện tích đất ở tối thiểu 70m2. Kích thước mặt tiền tối thiểu 4m, chiều sâu so với chỉ giới xây dựng nếu có tối thiểu 8m đối với thửa đất gốc có chiều sâu hiện hữu từ 8m trở lên.
Trường hợp thửa đất sau khi Nhà nước thu hồi đất, thửa đất có chiều sâu hiện hữu nhỏ hơn 5,5m, thì chiều sâu tối thiểu phải đảm bảo 5m.
Tại Lâm Đồng , từ ngày 15/10, với đất ở tại đô thị, diện tích tối thiểu được phép tách thửa của nhà phố là 40m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 4m trở lên. Nhà liền kề có sân vườn cần diện tích đất ở tối thiểu 72m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 4,5 m trở lên đối với đường đã có tên (hoặc đường chưa có tên mà lộ giới từ 10m trở lên). Tại các đường, đường hẻm còn lại diện tích đất ở phải tối thiểu 64m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 4m trở lên.
Đối với nhà biệt lập cần diện tích đất ở tối thiểu 250m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 10m trở lên đối với đường đã có tên (hoặc đường chưa có tên mà lộ giới từ 10m trở lên). Còn tại các đường, đường hẻm còn lại diện tích đất ở tối thiểu 200m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 10m trở lên.
Với biệt thự cần diện tích đất ở tối thiểu 400m2, kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 12m trở lên đối với đường đã có tên (hoặc đường chưa có tên mà lộ giới từ 10m trở lên). Còn tại các đường, đường hẻm còn lại diện tích đất ở tối thiểu 250 m2 và kích thước cạnh tiếp giáp đường từ 10m trở lên.
Với đất sản xuất nông nghiệp, đất nông nghiệp khác, diện tích tối thiểu tách thửa là 500m2 tại khu vực đô thị (các phường, thị trấn) và 1.000 m2 tại khu vực nông thôn (các xã). Các thửa đất sau khi tách thửa phải có kích thước cạnh thửa tiếp giáp đường giao thông công cộng hiện có hoặc lối đi tối thiểu 10m.
Với đất rừng sản xuất là rừng trồng, diện tích đất tối thiểu tách thửa là 10.000 m2.
Tại Hậu Giang , từ ngày 14/10, với đất phi nông nghiệp, diện tích tối thiểu tách thửa đối với đất ở (đất ở nông thôn và đất ở đô thị) là 45 m2. Diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp là 60 m2. Trường hợp cạnh của thửa đất không là đường thẳng (đường cong, đường gấp khúc) thì kích thước cạnh của thửa đất được tính là tổng chiều dài các đoạn cong, đoạn gấp khúc.
Diện tích tối thiểu tách thửa đất nông nghiệp gồm: Đất trồng cây hằng năm (gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hằng năm khác), đất nuôi trồng thủy sản là 700 m2; Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất và đất nông nghiệp khác là 300 m2.

Theo khoản 5 Điều 116 Luật đất đai 2024 thì hộ gia đình, cá nhân được phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong...
26/09/2025

Theo khoản 5 Điều 116 Luật đất đai 2024 thì hộ gia đình, cá nhân được phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khu dân cư, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở sang đất ở nếu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trước đó, theo quy định tại Điều 52 Luật đất đai 2013 thì căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Từ quy định nêu trên, có thể thấy từ ngày 1.8.2024, căn cứ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp lên thổ cư là quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thay vì kế hoạch sử dụng đất cấp huyện hằng năm như trước kia.
Theo đó, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được quy định tại Điều 62 Luật đất đai 2024 là 10 năm (tầm nhìn 20 năm). Và kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hằng năm.
Như vậy, hộ gia đình, cá nhân được phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất thổ cư nếu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được phê duyệt.
Quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất nông nghiệp
Điều 4 Nghị định 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất nông nghiệp bao gồm:
– Đất trồng cây hằng năm là đất trồng các loại cây được gieo trồng, cho thu hoạch và kết thúc chu kỳ sản xuất trong thời gian không quá một năm, kể cả cây hằng năm được lưu gốc. Đất trồng cây hằng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hằng năm khác, cụ thể như sau:
+ Đất trồng lúa là đất trồng từ một vụ lúa trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với các mục đích sử dụng đất khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính. Đất trồng lúa bao gồm đất chuyên trồng lúa và đất trồng lúa còn lại, trong đó đất chuyên trồng lúa là đất trồng từ 2 vụ lúa trở lên;
+ Đất trồng cây hằng năm khác là đất trồng các cây hằng năm không phải là trồng lúa.
– Đất trồng cây lâu năm là đất sử dụng vào mục đích trồng các loại cây được gieo trồng một lần, sinh trưởng trong nhiều năm và cho thu hoạch một hoặc nhiều lần.
– Đất lâm nghiệp là loại đất sử dụng vào mục đích quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, được phân loại cụ thể như sau:
+ Đất rừng đặc dụng là đất mà trên đó có rừng đặc dụng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất đã được giao để phát triển rừng đặc dụng;
+ Đất rừng phòng hộ là đất mà trên đó có rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất đã được giao để phát triển rừng phòng hộ;
+ Đất rừng sản xuất là đất mà trên đó có rừng sản xuất theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đất đã được giao, cho thuê, chuyển mục đích để phát triển rừng sản xuất.
– Đất nuôi trồng thủy sản là đất sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản.
– Đất chăn nuôi tập trung là đất xây dựng trang trại chăn nuôi tập trung tại khu vực riêng biệt theo quy định của pháp luật về chăn nuôi.
– Đất làm muối là đất sử dụng vào mục đích sản xuất muối từ nước biển.
– Đất nông nghiệp khác gồm:
+ Đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm, thực nghiệm;
+ Đất xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, chăn nuôi kể cả các hình thức trồng trọt, chăn nuôi không trực tiếp trên đất;
+ Đất xây dựng công trình gắn liền với khu sản xuất nông nghiệp gồm đất xây dựng nhà nghỉ, lán, trại để phục vụ cho người lao động; đất xây dựng công trình để bảo quản nông sản, chứa thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ và các công trình phụ trợ khác.

So với trước đây thì từ khi Luật đất đai 2024 có hiệu lực, người bị thu hồi đất sẽ nhận được thêm quyền...
25/09/2025

So với trước đây thì từ khi Luật đất đai 2024 có hiệu lực, người bị thu hồi đất sẽ nhận được thêm quyền lợi so với trước đây.
Chú ý giá bồi thường cao hơn:
Trong Luật đất đai 2024 hiệu lực từ ngày 1/8/2024 thì nhà nước đã không quy định khung giá đất, đồng thời nhấn mạnh việc định giá đất phải theo nguyên tắc thị trường. Theo đó thì từng địa phương sẽ có quy định về bảng giá đất mỗi năm một lần, tùy thuộc theo sự thay đổi giá đất thị trường. Quy định này sẽ không căn cứ vào giá đất tối thiểu – tối đa của khung giá đất do Chính phủ ban hành 5 năm một lần như hiện nay mà sẽ tiếp cận theo bảng giá đất tại địa phương. Do đó giá đền bù có thể sẽ tăng cao hơn trước đây. Bảng giá đất hiện hành sẽ được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/12/2025 và từ ngày 01/01/2026, các tỉnh, thành trên cả nước sẽ công bố và áp dụng Bảng giá đất mới. Như vậy, từ 01/01/2026, giá đất bồi thường mới tăng.
Người bị thu hồi đất nông nghiệp có thể được bồi thường bằng đất ở, nhà ở:
Khoản 6 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định, người bị thu hồi đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường mà có nhu cầu bồi thường bằng đất ở/nhà ở và địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, nhà ở thì được bồi thường bằng giao đất ở/nhà ở tái định cư.
Như vậy thì nếu người bị thu hồi đất có nhu cầu và quỹ dất địa phương cho phép thì có thể được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở. Đây là tin vui cho nhiều người trong trường hợp bị thu hồi đất bởi sẽ giúp họ nhanh ổn định cuộc sống, nơi ở.
Xong phương án tái định cư mới được ra quyết định thu hồi
Quy định tại khoản 3 Điều 80 Luật Đất đai năm 2024 nêu rõ rằng để thu hồi đất thì cơ quan chức năng phải hoàn thành việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư theo quy định của Luật này.
Khoản 6 Điều 91 Luật Đất đai năm 2024 cũng ghi rõ: “Việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư phải được hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất”.
Như vậy người dân trong trường hợp bị thu hồi đất có thể yên tâm hơn về việc định cư khi bị thu hồi đất. Do đó mọi người cần nắm thông tin này để đảm bảo quyền lợi của mình khi bị thu hồi đất.
Hộ gia đình nhiều thế hệ bị thu hồi đất được giao thêm đất
Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định các đối tượng sau nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất ở thì được bồi thường bằng đất ở/nhà ở tại khu tái định cư/địa điểm khác phù hợp khi bị thu hồi đất, bao gồm: Hộ gia đình, cá nhân có đất ở; Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam.
Nếu hộ gia đình có nhiều thế hệ/có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng/có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất/bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu.
Người bị thu hồi đất có thêm nhiều khoản hỗ trợ hơn trước đây
Trước đây khi bị thu hồi đất thì người dân được hưởng các khoản hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm… Từ khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực thì người dân được hưởng thêm các khoản hỗ trợ khác cho người bị thu hồi đất như hỗ trợ di dời vật nuôi; hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời đối với tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn.
Ngoài ra, Luật Đất đai 2024 đã bỏ điều kiện phải trong độ tuổi lao động đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm.
Luật Đất đai 2024 cũng đã bổ sung quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm đối với các trường hợp cá nhân thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ.

Address

Hòa Bình
3600000

Telephone

+84974989195

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bất Động Sản Hoà Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Bất Động Sản Hoà Bình:

Share