Cá Ông

Cá Ông Đầu tư tài chính

MOATS (tạm dịch lợi thế cạnh tranh)Lợi thế cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu khi phân tích một doanh nghiệp và đư...
17/03/2022

MOATS (tạm dịch lợi thế cạnh tranh)

Lợi thế cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu khi phân tích một doanh nghiệp và được xem là linh hồn của trường phái đầu tư nắm giữ dài hạn. Chính vì lẽ đó mà chủ đề này nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trên thị trường. Về mặt lý thuyết, có rất nhiều loại lợi thế cạnh tranh mà bạn có thể tìm thấy. Cũng có nhiều cách phân loại, như Micheal Potter – cha đẻ của các lý thuyết lợi thế cạnh tranh phân lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp ra hai loại là lợi thế chi phí và lợi thế khác biệt. Tuy nhiên hôm nay tôi sẽ đem đến một hơi hướng khác về lợi thế cạnh tranh trên góc nhìn chuỗi giá trị của doanh nghiệp.

Về bản chất, bất kỳ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hoặc ngành nghề nào cũng đều có một chuỗi giá trị riêng, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau. Tựu chung lại, chúng ta có thể tóm gọn chuỗi giá trị của doanh nghiệp thành 3 công đoạn chính sau: (1) Đầu vào (2) Sản xuất và (3) Đầu ra. Bài viết sẽ đi xuyên suốt 3 công đoạn này để tìm ra những lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sỡ hữu so với đối thủ cùng ngành.

Lợi thế cạnh tranh nhìn từ chuỗi giá trị của doanh nghiệp:
🐳Đầu vào
• Khả năng tự chủ nguyên vật liệu
Xu hướng hoàn thiện chuỗi kinh doanh khép kín và tự chủ nguyên vật liệu đầu vào là xu hướng mà nhiều doanh nghiệp hơn đến, đặc biệt với những doanh nghiệp hoạt động trong nhóm ngành có giá nguyên liệu vật biến động mạnh. Việc tự chủ nguyên vật liệu đầu vào có thể giúp doanh nghiệp tối đa hóa được biên lãi và là lợi thế to lớn so với các doanh nghiệp khác nếu giá nguyên vật liệu ngoài thị trường có xu hướng tăng.

• Lợi thế từ nhà cung cấp
Lợi thế này xuất hiện ở những doanh nghiệp có mối quan hệ đặc biệt với phía nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp. Mối quan hệ này có thể dựa trên vốn góp, công ty liên doanh liên kết hay từ mối quan hệ của công ty mẹ. Theo đó công ty được cung cấp một chi phí đầu vào với giá ưu đãi hoặc đặc quyền chỉ công ty mới được cung cấp loại nguyên vật liệu từ phía nhà cung cấp, tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ trong ngành.

🐳 Dây truyền sản xuất
• Quy mô
Những doanh nghiệp có quy mô lớn có thể sản xuất với chi phí bình quân cho mỗi sản phẩm ở mức thấp hơn so với cac doanh nghiệp nhỏ. Những chi phí này bao gồm chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành nhà máy, chi phí bán hàng, chi phí nguyên vật liệu, chi phí quảng cáo… Lợi thế về quy mô xuất hiện ở những doanh nghiệp đầu ngành, giúp doanh nghiệp làm chủ cuộc chơi về giá bán và giành thị phần từ những doanh nghiệp nhỏ hơn.

• Bí quyết
Bằng sáng chế hay các phát minh được bảo hộ, các bí quyết mà duy nhất doanh nghiệp sở hữu để tạo ra những sản phẩm khác biết giúp tạo lợi thế so với đối thủ cạnh tranh. Lợi thế này dễ thấy ở những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp dược nghiên cứu và sản xuất thuốc phát minh

• Công nghệ
Một số doanh nghiệp tạo lợi thế cạnh tranh bằng việc đầu tư những dây truyền máy móc có công nghệ hiện đại, giúp nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm. Trong thời buổi 4.0 và xu hướng khác hàng tâm đến chất lượng sản phẩm nhiều hơn, lợi thế về công nghệ đang ngày được các công ty chú trọng đến. Nhược điểm của lợi thế này là yêu cầu chi phí đầu tư ban đầu lớn, khó áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và cần doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ giữa chi phí và lợi ích đạt được.

🐳 Đầu ra
• Thương hiệu
Đây làm một lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong ngành hàng tiêu dùng, xa xỉ phẩm. Giữa những sản phẩm có đặc tính giống nhau, khách hàng có xu hướng sản dụng những sản phẩm có thương hiệu quen thuộc. Với các mặt hàng cao cấp xa xỉ phẩm, yếu tố thương hiệu có thể giúp doanh nghiệp bán hàng với mức giá trên trời mà vẫn thu hút được khách hàng.

• Hệ thống phân phối
Sản xuất ra sản phẩm tốt là yêu cầu quan trọng nhất của một doanh nghiệp, nhưng làm chủ được kênh phân phối rộng khắp để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng không kém. Hệ thống phân phối lớn giúp doanh nghiệp tiếp cận được một thị trường rộng lớn hơn và gia tăng thị phần của doanh nghiệp. Nhược điểm của lợi thế cạnh tranh này là có thể khiến doanh nghiệp mất nhiều chi phí hơn để duy trì được mạng lưới của mình.

• Quan hệ khách hàng
Tương tự với lợi thế từ nhà cung cấp, lợi thế từ khách hàng xuất phát từ những doanh nghiệp có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng. Từ đó công ty có thể bán được hàng với giá thành cao hơn các đối thủ khác hoặc được bao tiêu sản phẩm đầu ra, giúp công ty giảm được chi phí bán hàng và áp lực từ phía đầu ra.

• Vị trí địa lý
Một số doanh nghiệp sở hữu tài sản, nhà máy, bất động sản có vị trí địa lý thuận lợi cho việc bán hàng và cung cấp dịch đến khách hàng sẽ có lợi thế lớn so với các doanh nghiệp khác. Ở thị trường Việt Nam loại lợi thế này thường xuất hiện ở những ngành nghề có chi phí vận tải vận chuyển cao như cảng, bất động sản công nghiệp hay các nhóm ngành vật liệu xây dựng

• Thị trường độc quyền
Tại Việt Nam có một số ngành mang yếu tố độc quyền do sự chi phối của nhà nước, những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành này thường xuất phát từ doanh nghiệp nhà nước hoặc thuộc sở hữu hoặc góp vốn của nhà nước. Cũng có một số ngành rào cản gia nhập cao do các rào cản về mặt pháp lý, khiến sự tham gia mới của các doanh nghiệp là rất khó.

• Thị trường ngách
Một số doanh nghiệp tạo không hoạt động trong một ngành có rào cản ra nhập cao nhưng vẫn tạo được lợi thế cạnh tranh cho mình nhờ hoạt động trong thị trường ngách. Thị trường ngách là một miếng bánh nhỏ trong chuỗi giá trị toàn ngành, không đủ hấp dẫn để các doanh nghiệp khác tham gia và nhờ đó doanh nghịêp ít bị áp lực cạnh tranh hơn. Nhược điểm của những doanh nghiệp này là khi chiếm lĩnh được thị trường ngách buộc doanh nghiệp phải mở rộng quy mô và tham gia vào những thị trường mới, nơi có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn.

Hy vọng nội dung bài viết sẽ giúp ích độc giả trong việc nhận diện MOATS của doanh nghiệp.

Bố cục mẫu khi phân tích, đánh giá một doanh nghiệp 🐳Dựa theo triết lý đầu tư của Ngài Graham và W.B, Cá Ông xin giới th...
16/03/2022

Bố cục mẫu khi phân tích, đánh giá một doanh nghiệp 🐳

Dựa theo triết lý đầu tư của Ngài Graham và W.B, Cá Ông xin giới thiệu bố cục mẫu bao gồm những khía cạnh cần phân tích khi tìm hiểu và đánh giá một doanh nghiệp. Đây là bố cục mà tôi học hỏi được chứ không phải do tự sáng tạo ra, hy vọng sẽ giúp ích cho các độc giả đang không biết bắt đầu tìm hiểu về doanh nghiệp mình yêu thích từ đâu và như thế nào cho toàn diện.
Như bài phân tích cổ phiếu mẫu số thứ nhất của Cá Ông về Điện Quang Group, những khía cạnh cơ bản nhất cần tìm hiểu trong quá trình phân tích doanh nghiệp bao gồm:
1: thông tin chung về tình hình cổ phiếu niêm yết như giá thấp-cao 52 tuần (1 năm), SLCP đang lưu hành, Vốn hóa thị trường, thanh khoản trung bình 10 phiên hay vốn chủ sỡ hữu,... Những thông tin này nên được quan tâm trước khi bước vào quá trình deep due diligence vì chúng sẽ là công cụ để bạn liên kết những thông tin, và nắm bắt được tình hình thị giá cổ phiếu trước khi đi tìm giá trị thực của nó.

2. Business model: Mô hình kinh doanh của doanh nghiệp, đây là một khía cạnh tương đối dễ để tìm hiểu vì hầu hết thông tin nằm ở dạng chữ và được thể hiện đầy đủ thông qua website công ty hoặc báo cáo thường niên của doanh nghiệp. Một cách khái quát, người phân tích cần nắm được hoạt động mà doanh nghiệp đang vận hành để kiếm tiền; Những chuyển biến quan trọng trong lĩnh vực HĐKD (xây nhà máy, đầu tư vào lĩnh vực mới,...); Điểm mới lạ trong hoạt động kinh doanh của DN so với đối thủ thứ mà có thể là yếu điểm hoặc trở thành năng lực cạnh tranh của DN; Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của DN nếu có nhiều thời gian,... Những nội dung này độc giả có thể tìm thấy ở báo cáo thường niên hằng năm của DN và các loại văn bản phục vụ cổ đông khác trong phần quan hệ cổ đông (trên website DN).

3. Moats and prospects: Khái niệm Moats-con hào kinh tế, quý độc giả có thể hiểu nôm na là những lợi thế cạnh tranh đến từ bản chất HĐKD của doanh nghiệp. Bao gồm: Lợi thế về nguồn nguyên liệu, lợi thế về công nghệ, lợi thế về thương hiệu hay về sản phẩm hoặc con người,...Để nhận diện được những lợi thế cạnh tranh này, người phân tích cần hiểu rõ về mô hình kinh doanh của DN và cả đối thủ cạnh tranh cũng như tổng quan ngành nghề của DN. Prospects- tiềm năng- ở phần này độc giả cần trả lời được câu hỏi Liệu với mô hình kinh doanh như hiện tại, lợi thế cạnh tranh sẵn có DN có thể có những tiềm năng tăng trưởng như thế nào? Có những độc giả có business sense nhạy bén có thể sẽ rất nhanh nhạy trong phần này, đôi lúc những nhà đầu tư cá nhân còn nhận diện tiềm năng của DN tốt hơn ban lãnh đạo (điều này đôi lúc vẫn xảy ra). Ngoài ra, đối với những DN có KH kinh doanh mới, quy mô lớn thì việc đánh giá tính khả thi và tác động của KH lên tình hình tài chính của DN là điều cần thiết.

4. Financial and Management:
Tình hình tài chính: kỹ năng đọc BCTC là tối cần thiết đối với quý độc giả khi muốn phân tích tình hình tài chính của DN. Hiểu càng sâu về BCTC thì độc giả càng có cái nhìn thấu đáo về tình hình tài chính của công ty đang phân tích. Nhưng cơ cấu tiền mặt trên tài sản, chỉ số về nợ, tình hình chi trả cổ tức, khấu hao là những thứ cần chú ý và dễ dàng nhìn thấy được.

Management: Cô cấu cổ đông và ban lãnh đạo là khía cạnh nên tìm hiểu kỹ, việc làm này không có nhiều yếu tố chuyên môn về tài chính mà chỉ đơn thuần là kinh nghiệm và khả năng đánh giá con người mà thôi. Việc tìm hiểu về lịch sử DN có thể là hệ tham chiếu tốt để đánh giá về ban lãnh đạo doanh nghiệp.

5. Margin of Safety: Biên độ an toàn- thuật ngữ vàng mà B.Graham đã tạo ra và trở thành nguyên tắc bất di bất dịch của nhiều thế hệ đầu tư giá trị, kể cả là Warrent Buffet. Biên độ an toàn của Graham là chênh lệch giữa giá cổ phiếu và giá trị nội tại của nó. Về lý thuyết, giá cổ phiếu càng thấp hơn giá trị nội tại của nó, thì biên độ an toàn trước sự không chắc chắn trong tương lai càng lớn và khả năng phục hồi của cổ phiếu đối với sự suy thoái của thị trường càng lớn.
Warren Buffett đã định nghĩa mức độ an toàn là “mua 1 đô la được 50 xu”. Buffett nói... “Bạn cũng phải có kiến thức để có thể ước tính tổng quát về giá trị của các doanh nghiệp cơ bản. Nhưng bạn không thế cho ra một đáp số chính xác được và sự thật là không ai có thể làm điều đó. Đó là lý do của Ben Graham khi đề ra nguyên tắc biên độ an toàn trong đầu tư. Bạn đừng cố mua các doanh nghiệp trị giá 83 triệu đô la với giá 80 triệu đô la. Bạn để lại cho mình một khoản tiền rất lớn.”
Đối với những người khác nhanh, biên độ an toàn cũng sẽ khác nhau. Có thể là 25% ( tức giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực 25%) đối với W.B, có thể là 50% hoặc 100%. Đối với những người mới tiếp cận pp, thì biên độ an toàn nên là 50-100%, vì như vậy mới đủ để bù đắp sai số cho những nhà phân tích còn “non nớt”.
Tất nhiên, bạn đọc có thể cũng đã nhận ra điều quan trọng ở đây không phải là nguyên tắc 25 50 hay 100 mà là cách để tìm ước tính tổng quát giá trị một công ty. Đây là điều mà Cá Ông đã từng chia sẻ và sẽ tiếp tục chia sẻ trong thời gian tới.
Dựa vào những khía cạnh cơ bản trên, đọc giả có thể thực hiện quá trình deep due diligence, tránh việc tìm hiểu lan man hoặc không biết bắt đầu từ đâu. Về lâu dài, khi đã đủ chín chắn, quý độc giả sẽ tự mình hoàn thiện những khía cạnh mà bản thân cho là cần thiết khi đánh giá 1 DN.

FA (phân tích cơ bản) và TA (phân tích kỹ thuật)Trên đời có tỷ loại trường phái đầu tư khác nhau. Nào là đầu tư giá trị,...
15/03/2022

FA (phân tích cơ bản) và TA (phân tích kỹ thuật)

Trên đời có tỷ loại trường phái đầu tư khác nhau. Nào là đầu tư giá trị, đầu tư tăng trưởng, rồi lại đầu tư giá trị tăng trưởng, đầu tư theo đà tăng trưởng, đầu tư theo dòng tiền…Tuy nhiên công cụ để anh chị em chứng sĩ sử dụng cho các trường phái đầu tư trên chủ yếu xoay quanh 2 phương pháp chính là phân tích kỹ thuật (TA) và phân tích cơ bản (FA). Bởi vì dễ học và dễ áp dụng hơn, phân tích kỹ thuật là phương pháp được đông đảo nhà đầu tư sử dụng hơn hiện nay. Ngược lại, phân tích cơ bản được đánh giá là khó hơn và cần phải mất nhiều thời gian nên ít người dành thời gian cho nó.
Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, và việc vận dụng được những ưu điểm của cả hai phương pháp này có thể đem đến những hiệu quả đầu tư tuyệt vời. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng để đầu tư thành công thì bắt buộc sử dụng cả TA và FA mình cho rằng là một quan điểm chưa thực sự chính xác. Hay nói cách khác, nếu vận dụng một cách cứng nhắc, TA và FA không phải là song kiếm hợp bích, ngược lại có thể khiến nhà đầu tư tẩu hỏa nhập ma.

🐳Sử dụng FA trong ngắn hạn là một trò đùa
Trước hết, mình muốn làm rõ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và dài hạn là gì. Thực sự thì hiện nay chẳng có quy chuẩn nào để phân biệt được các khoảng thời gian thời gian này, thậm chí ngắn hạn và dài hạn trong TA và FA cũng rất khác nhau. Đối với cá nhân mình, mình sẽ chia các khung thời gian như sau: ngắn hạn tính bằng ngày, trung hạn tính bằng tuần hoặc tháng và dài hạn thì tính bằng năm.
Benjamin Graham, cha đẻ của phương pháp đầu tư giá trị từng nói: “Trong ngắn hạn, thị trường là một chiếc máy bỏ phiếu lựa chọn giữa mua và bán, còn trong dài hạn, thị trường là một chiếc bàn cân để cân rõ trọng lượng của từng doanh nghiệp.” Câu này có nghĩa là: trong ngắn hạn, thị trường và cổ phiếu sẽ vận động theo tâm lý của đám đông, bất kể đó đó là cổ phiếu tốt hay cổ phiếu xấu. Chẳng ai có thể cân đo đong đếm được cơn điên của thị trường, những trường hợp cổ phiếu tăng trần rồi giảm sàn liên tục không phải là hiếm gặp trên thị trường. Đặc biệt là những cổ phiếu có thanh khoản cao, nơi mà đám đông sở hữu nhiều thì lại càng có những bước di chuyển giá kinh dị. Những sự biến động trong ngắn hạn, nhìn chung là yếu tố cơ bản không thể giải thích được.
Do vậy, thật khó hiểu khi chúng ta áp FA để “lướt” cổ phiếu và sau đó thắc mắc khi cổ phiếu mà chúng ta đánh giá tốt liên tục giảm trong ngắn hạn. Túm lại, nếu lướt lát trong ngắn hạn thì cứ TA mà “phang”, cổ phiếu lởm vẫn có thể kiếm được lợi nhuận nếu chúng ta mua và bán đúng thời điểm.

🐳Ngược lại, TA không có tác dụng trong dài hạn
“Đệ tử“ của Graham, cụ Buffett lại có câu: “Nếu bạn không sẵn sàng sở hữu một cổ phiếu trong mười năm, thì đừng nghĩ đến việc sở hữu nó trong mười phút”. Trên thị trường rất ít nhà đầu tư dài hạn đích thực, những người sẵn sàng nắm giữ cổ phiếu trên 5 năm, 10 năm. Nhà đầu tư cá nhân lại càng ít, có chăng là những nhà đầu tư lớn, những nhà đầu tư tổ chức mới sẵn sàng nắm giữ cổ phiếu trong thời gian đó.
Điều mà một nhà đầu tư dài hạn quan tâm duy nhất chỉ là hai chữ: giá trị. Mua cổ phiếu dưới giá trị thực và chờ đợi thị trường trả cho chúng về đúng giá trị thực và đó là thời điểm để “thoát hàng”. Những người theo trường phái đầu tư dài hạn là những người có giấc ngủ ngon, vì họ biết rằng những biến động trong ngắn hạn của cổ phiếu chỉ là nhất thời. Thậm chí nếu cổ phiếu giảm sâu, đây lại là cơ hội tốt để họ gia tăng tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục.
Trong đầu tư dài hạn, phân tích cơ bản lại càng phát huy được sức mạnh. Thông tin doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh, đội ngũ lãnh đạo, lợi thế cạnh tranh, môi trường kinh doanh ngành… được họ khai thác một cách triệt để. Chỉ khi nào các biến số này có sự thay đổi, nhà đầu tư dài hạn mới xem xét điều chỉnh vị thế của mình chứ không phải là vì gãy trend, dấu hiệu đảo chiều… gì đó theo phân tích kỹ thuật.

🐳TA và FA kết hợp với nhau khi nào ?
Câu trả lời chính nằm ở yếu tố thời gian. Nếu bạn không có ý định lướt sóng cổ phiếu trong ngắn hạn, lại cũng không đủ kiên nhẫn để nắm giữ cổ phiếu trong nhiều năm thì TA và FA chính là môn võ song kiếm hợp bích mà bạn cần phải luyện thành nếu muốn hành tẩu giang hồ. Và nên nhớ, thời gian là một người bạn đồng hành của FA. Có nghĩa là nếu bạn có ý định nắm giữ cổ phiếu càng lâu, thì FA là trọng số mà bạn cần quan tâm hàng đầu. Ngược lại, thời gian nắm giữ cổ phiếu của bạn càng ngắn, thì phân tích kỹ thuật là yếu tố cần được ưu tiên hơn.

Thông thường có hai chiến lược sau có thể áp dụng cả TA và FA :
(1) Lựa chọn cổ phiếu theo TA, hay mọi người thường nói là tìm những cổ phiếu có ‘’tiền vào’’. Đây là những cổ phiếu có sự gia tăng cả về giá và khối lượng và tín hiệu theo phân tích kỹ thuật có thể là brake out, vượt mây, mở band, vượt đỉnh… Sau đó, tìm hiểu yếu tố FA xem cổ phiếu có câu chuyện nào hấp dẫn hay không rồi mới thực sự tham gia. Chiến lược này có ưu điểm là không bị ‘’nhỡ sóng’’ của thị trường, tức là rất nhạy đối với những cổ phiếu có sóng. Tuy nhiên nhược điểm là do những cổ phiếu có điểm mua theo TA sẽ xuất hiện một cách thường xuyên, do đó để lựa chọn đúng mặt gửi vàng là điều khá khó khăn
(2) Ngược lại với cách 1: lựa chọn cổ phiếu có câu chuyện theo FA, sau đó tìm kiếm điểm vào theo TA. Đây là cách mà mình hay sử dụng, ưu điểm là chúng ta có thời gian chuẩn bị điểm vào lâu hơn sau khi đã lựa chọn được danh sách các cổ phiếu cho danh mục theo dõi của mình. Nhược điểm của phương pháp này là chi phí thời gian để chờ điểm mua cổ phiếu có thể là rất lâu, hay thị trường phải mất lâu mới có thể nhìn ra cơ hội đầu tư này như mình.
Vậy đâu là sự lựa chọn của bạn?
Nguồn: F319

Chuyên mục cafe sáng đầu tuần!!!Mỗi tuần là một câu chuyện và những bài học sâu sắc. Đầu tư nói riêng và trong cuộc sống...
14/03/2022

Chuyên mục cafe sáng đầu tuần!!!
Mỗi tuần là một câu chuyện và những bài học sâu sắc. Đầu tư nói riêng và trong cuộc sống nói chung là một quá trình không ngừng học hỏi
Walter Schloss: Cách để kiếm tiền trên thị trường chứng khoán
Walter Schloss bắt đầu với tư cách là một thành viên Phố Wall vào năm 1934. Đến năm 1940, ông đã tham gia một vài khóa học do Ben Graham giảng dạy. Điều đó dẫn đến việc anh ta bắt đầu làm việc tại Graham-Newman. Sau đó, Schloss bắt đầu quan hệ đối tác của riêng mình vào năm 1956 sau khi Graham-Newman đóng cửa.
Warren Buffett đã mô tả phong cách đầu tư của Walter theo cách này:
Walter đã đa dạng hóa rất nhiều, hiện đang sở hữu hơn 100 cổ phiếu. Anh ta biết cách xác định chứng khoán bán với giá thấp hơn đáng kể giá trị của chúng cho một chủ sở hữu tư nhân. Và đó là tất cả những gì anh ấy làm. Anh ấy không lo lắng về việc liệu đó có phải là tháng Giêng hay không, anh ấy không lo lắng về việc liệu hôm nay có phải là thứ Hai hay không, anh ấy không lo lắng về việc liệu đó có phải là năm bầu cử hay không. Anh ấy chỉ đơn giản nói, nếu một công việc kinh doanh trị giá một đô la và tôi có thể mua nó với giá 40 xu, thì điều gì đó tốt có thể xảy ra với tôi. Và anh ấy làm đi làm lại nhiều lần. Anh ta sở hữu nhiều cổ phiếu hơn tôi - và ít quan tâm đến bản chất cơ bản của công việc kinh doanh; Tôi dường như không có nhiều ảnh hưởng đến Walter. Đó là một trong những điểm mạnh của anh ấy; không ai có nhiều ảnh hưởng đến anh ta.
Điểm mạnh của Schloss là anh ấy hiểu rõ bản thân mình để xây dựng một chiến lược hoàn toàn phù hợp với bản thân. Anh ấy biết những gì anh ấy hiểu (tránh những gì anh ấy không hiểu), khả năng chấp nhận rủi ro và tính cách của anh ấy. Và anh ấy đã giữ nó đơn giản.
Ví dụ, anh ấy biết mình không giỏi trong việc dự đoán hướng đi của thị trường hoặc thu nhập trong tương lai của công ty hoặc người quản lý, vì vậy anh ấy không bận tâm. Thay vào đó, anh ấy tập trung vào tài sản của công ty và tránh tối đa cuộc họp với ban quản lý cuộc.
Tránh thua lỗ cũng là một ưu tiên. Vì vậy, anh ấy tự nhiên bị thu hút bởi đầu tư giá trị của Graham. Anh tìm kiếm những cổ phiếu có giá thấp so với giá trị sổ sách với ít hoặc không có nợ và có một thành tích dài đằng sau nó.
Và nó hoạt động trong 45 năm (anh ấy đóng cửa cửa hàng vào năm 2001). Từ năm 1956 đến năm 2000, các đối tác của anh kiếm được 15,7% hàng năm (sau phí) so với 11,2% đối với S&P 500. Chiến lược của anh là một chiến lược đơn giản nhưng thu được kết quả tuyệt vời.
Vào năm 1994, Schloss đã tổng kết cách anh kiếm tiền trên thị trường chứng khoán với 16 yếu tố dưới đây:
- Giá cả là yếu tố quan trọng nhất được sử dụng trong mối quan hệ với giá trị.
- Cố gắng thiết lập giá trị của công ty. Hãy nhớ rằng một phần cổ phiếu đại diện cho một phần của doanh nghiệp và không chỉ là một tờ giấy.
- Sử dụng giá trị sổ sách như một điểm khởi đầu để cố gắng và xác lập giá trị của doanh nghiệp. Đảm bảo rằng nợ không bằng 100% vốn chủ sở hữu.
- Hãy kiên nhẫn. Cổ phiếu không tăng ngay lập tức.
- Đừng mua theo mẹo hoặc có động thái tận dụng tin tức nhanh chóng. Hãy để các chuyên gia làm điều đó, nếu họ có thể..
- Đừng sợ trở thành một người cô độc nhưng hãy chắc chắn rằng bạn đã chính xác trong nhận định của mình. Bạn không thể chắc chắn 100% nhưng hãy cố gắng tìm ra những điểm yếu trong suy nghĩ của mình.
- Hãy can đảm cho niềm tin của bạn khi bạn đã đưa ra quyết định.
- Có một triết lý đầu tư và cố gắng làm theo nó. Trên đây là một cách mà tôi thấy thành công.
- Đừng quá vội vàng để bán. Nếu cổ phiếu đạt mức giá mà bạn cho là hợp lý, thì bạn có thể bán nhưng thường vì cổ phiếu tăng giá 50% nên mọi người nói rằng hãy bán nó đi và thu về lợi nhuận của bạn. Trước khi bán, hãy thử đánh giá lại công ty một lần nữa và xem cổ phiếu bán ở đâu so với giá trị sổ sách của nó.
- Khi mua một cổ phiếu, tôi thấy rất hữu ích nếu mua gần mức thấp nhất trong vài năm qua. Một cổ phiếu có thể tăng cao tới 125 và sau đó giảm xuống 60 và bạn cho rằng nó hấp dẫn. Nhưng 3 năm trước cổ phiếu cũng đã được bán ở mức 20, điều này cho thấy có một số lỗ hổng trong đó.
- Cố gắng mua tài sản với giá chiết khấu hơn là mua thu nhập. Thu nhập có thể thay đổi đáng kể trong thời gian ngắn. Thông thường tài sản thay đổi chậm. Người ta phải biết nhiều hơn về một công ty nếu người ta mua theo thu nhập.
- Lắng nghe đề xuất từ những người bạn tôn trọng. Điều này không có nghĩa là bạn phải chấp nhận chúng. Hãy nhớ nó là tiền của bạn và nói chung là khó giữ tiền hơn là kiếm. Một khi bạn mất nhiều tiền thì rất khó để kiếm lại.
- Cố gắng đừng để cảm xúc ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của bạn. Sợ hãi và tham lam có lẽ là những cảm xúc tồi tệ nhất có liên quan đến việc mua và bán cổ phiếu.
- Ghi nhớ lãi kép. Ví dụ: nếu bạn có thể kiếm được 12% một năm và tái đầu tư số tiền trở lại, bạn sẽ nhân đôi số tiền của mình sau 6 năm, không bao gồm thuế. Hãy nhớ quy tắc 72.
- Thích cổ phiếu hơn trái phiếu. Trái phiếu sẽ hạn chế lợi nhuận của bạn và lạm phát sẽ làm giảm sức mua của bạn.
- Hãy cẩn thận với đòn bẩy. Nó có thể chống lại bạn.
Nguồn: The Superinvestors of Graham-and-Doddsville
Factors/ Needed to Make Money in the Stock Market/Novel Investor - Votpartners

Phương pháp định giá cổ phiếu (phần 2)PHƯƠNG PHÁP GIÁ TRỊ TÀI SẢN THUẦN (REIT NAV) là phương pháp ước tính giá trị doanh...
03/03/2022

Phương pháp định giá cổ phiếu (phần 2)

PHƯƠNG PHÁP GIÁ TRỊ TÀI SẢN THUẦN (REIT NAV) là phương pháp ước tính giá trị doanh nghiệp dựa trên tổng giá trị tài sản thực tế mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi khoản nợ phải trả.

Để xác định giá trị doanh nghiệp, ta đi tính tổng giá trị thị trường của số tài sản mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Để xác định giá trị doanh nghiệp đối với chủ sở hữu, áp dụng công thức sau:
VE = VA – VD
Trong đó :
VE: Giá trị doanh nghiệp thuộc về chủ sở hữu;
VA : Tổng giá trị tài sản;
VD: Giá trị các khoản nợ (được xác định theo số dư thực tế trên sổ kế toán vào thời điểm thẩm định giá).

Trong phương pháp này, việc xác định giá trị doanh nghiệp được ưu tiên theo hướng đi vào xác định giá trị thị trường cuả các tài sản của doanh nghiệp, cụ thể quy trình thực hiện như sau:
Bước 1: Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp
Bước 2: Dựa vào kết quả kiểm kê tiến hành phân loại tài sản. Tùy theo mục đích thẩm định giá mà có những cách phân loại tài sản khác nhau. Thẩm định viên lựa chọn những danh mục tài sản cần thiết có khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và loại bỏ những tài sản không cần thiết dùng đến trong quá trình thẩm định giá doanh nghiệp.
Bước 3: đánh giá số tài sản còn lại theo thị trường, tính trên cơ sở tổng giá trị thị trường toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Quá trình xác định giá tài sản theo thị trường đòi hỏi cần có chuyên môn để thẩm định

Theo kinh nghiệm của ad, cách định giá này phù hợp nhất khi đém ra định giá những DN có cơ cấu tài sản đơn giản như những công ty bất động sản hay hãng tàu,… Đặc biệt là những DN BDS khi mà quỹ đất, chất lượng dự án là thứ quan trọng nhất đối với nhóm doanh nghiệp này.

CÓ MỘT VÀI ĐIỂM LƯU Ý CÓ THỂ GIÚP ÍCH BẠN ĐỌC TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ NHỮNG DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN.
Quỹ đất, các dự án và tiến độ triển khai: Được đề cập minh bạch trong báo cáo thường niên hàng năm của doanh nghiệp. Tiến độ dự án được cập nhật theo quý trên website doanh nghiệp, nếu cần biết thêm thông tin về tiến độ dự án, NĐT có thể gọi trực tiếp đến phòng quan hệ cổ đông của doanh nghiệp.
Một số trang web đáng tin cậy để cập nhật giá BĐS và dự án cần thiết tỏng việc định giá DN BĐS có thể kể đến như cafeland, cenland,…
7 tầng chi phí cần chú ý để khấu trừ khi định giá bằng pp giá trị tài sản thuần: Nếu quý bạn đọc nghe bất kỳ ai nói rằng “doanh nghiệp X này có giá trị quỹ đất là 10 nghìn tỷ, vốn hóa chỉ mới 2 nghìn tỷ quá rẻ, mua ngay, giá cổ phiếu sẽ tăng lên 5 10 lần” thì hãy cẩn thận với hắn, bởi vì hắn ta đã bỏ qua 7 tầng chi phí mà doanh nghiệp BDS phải chịu: (1) diện tích thương mại thông thường chỉ chiếm 30,40% tổng diện tích dự án (2) Thuế VAT 10% giá bán (3) Chi phí giá vốn đền bù, giải phóng mặt bằng, chi phí lớn nhất (4) Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 20%, quan trọng thứ 3 nhưng không ai tính vào (5) Chi phí lãi vay những khoản quan trọng (6) Tỷ suất chiếu khấu discount rate trên dòng tiền tương lai nếu dự án kéo dài, giãn tiến độ. Đó là ta chưa tính đến các “chi phí bôi trơn khác”,…

Nhiều kẻ cho rằng bỏ qua tất cả các chi phí được vì tỷ lệ tăng giá…% CAGR của bất động sản có thể bù đắp hết được chi phí như tỷ suất chiếu khấu dòng tiền, giá vốn dự án,… Tuy nhiên việc ước tính tỷ lệ tăng giá BĐS cần thận trọng và chỉ là dự đoán, nhất là ngành BĐS mang nặng tính chu kỳ. Nếu bất cứ ai chỉ nói miệng rằng giá bất động sản sẽ tăng hàng chục % CAGR trong tương lai thì đều không đáng tin nếu cơ sở phía sau không vững chắc.
Quý độc giả có thể tìm hiểu sâu hơn qua REIT NAV valuation excel model sau đây.
https://samples-breakingintowallstreet-com.s3.amazonaws.com/84-05-NAV-After.xls

Phương pháp định giá cổ phiếu (Phần 1)Định giá dự trên hệ số P/ECách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E là cách phổ ...
02/03/2022

Phương pháp định giá cổ phiếu (Phần 1)
Định giá dự trên hệ số P/E

Cách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E là cách phổ biến nhất và có thể áp dụng cho cổ phiếu ở hầu hết các ngành nghề (ngoại trừ những start-up trong giai đoạn sớm đặc biệt là tech start-up). Hiện trên TTCK Việt Nam đa phần là những doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu niêm yết của UBCKNN vì vậy đều có thể áp dụng phương pháp định giá này, do đó, phương pháp P/E cũng là phương pháp phổ biến nhất đối với các NĐT và phân tích viên ở thời điểm hiện tại.

Tỷ số giá trị thị trường trên thu nhập P/E (Price-to-Earnings) là quan hệ tỷ lệ giữa giá thị trường một cổ phiếu với thu nhập (lợi nhuận sau thuế) của một cổ phiếu. Ý nghĩa của nó có thể hiểu như sau: Nếu P/E=10 thì nếu bạn đầu tư vào doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại, bạn cần 10 năm để hoàn lại số vốn ban đầu (lưu ý: đầu tư vào doanh nghiệp và nắm giữ 10 năm, chứ không phải là mua rồi bán cổ phiếu để hưởng chênh lệch giá nhé).

Phân loại P/E: Các bạn đọc có thể google điều này, nó dễ và không có gì để bàn luận cả (cách tính của từng loại P/E cũng vậy).

Cách sử dụng: Nhìn chung có 2 cách sử dụng chính khi dùng P/E để định giá doanh nghiệp tuy nhiên đều dựa cơ sở so sánh tỷ số P/E của doanh nghiệp “tương tự” hoặc “có thể so sánh” để tìm ra giá trị của doanh nghiệp cần thẩm định giá.
Cách thứ nhất, người phân tích sẽ tìm cách DN cùng ngành với DN cần định giá để tính ra P/E trung bình ngành. Sau đó, bằng phép tính nhân chia đơn giản, người phân tích chỉ cần nhân giá cổ phiếu hiện tại với tỷ số giữa P/E trung bình ngành chia cho P/E của DN. Lưu ý, cách làm này cũng có thể thay thế P/E trung bình ngành bằng P/E trung bình của thị trường.

Cách làm thứ nhất rất đơn giản, nhưng lại có nhiều thiếu sót. Ví dụ: trong cùng một ngành, mỗi doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm riêng về mô hình KDSX hay lợi thế riêng biệt về công nghệ, quản lí,… do đó định giá theo cách một tồn tại nhiều thiếu sót. Cách thứ 2, người phân tích sẽ dự báo tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp, tiếp đó sẽ tính toán ra EPS dự phóng trong năm tiếp theo hoặc vài năm sau đó. Lấy EPS nhân với mức P/E hợp lí thông thường sẽ không quá cao và phụ thuộc vào trung bình ngành và thị trường nữa. Ví dụ, trong phân tích DQC, EPS dự phóng của DQC trong 1 năm tới được làm tròn là 10.000 đồng/cp, lấy P/E hợp lý là 10, thì định giá lúc này của DQC đã là 100k/cp. Mức P/E bằng 10 được xem là hợp lí, vì nó đủ thấp hơn tới 70% so với trung bình thị trường, đủ để bù đắp thiếu sót trong việc dự phóng EPS.Cách làm thứ hai không khó về mặt tính toán, nhưng cần NĐT phải am hiểu về doanh nghiệp để dự báo chính xác được EPS trong tương lai xa.

Một vài lưu ý:
🐳 Chỉ số P/E chỉ có tác dụng thực sự khi chúng ở cùng hoàn cảnh, điều kiện như nhau. Một số yếu tố ảnh hưởng đến P/E như tốc độ tăng trưởng, lợi thế cạnh tranh, độ an toàn hay rủi ro về mặt tài chính, ngành kinh doanh, điều kiện vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tốc độ tăng trưởng GDP… của đất nước…

🐳Khi các điều kiện kinh doanh, tài chính, vĩ mô như nhau, thì chỉ số P/E càng thấp càng tốt.

🐳Định giá cổ phiếu dựa trên hệ số P/E (Price per Earnings) là phương pháp phân tích cơ bản thuộc nhóm phương pháp dựa vào các hệ số. Đây là phương pháp đơn giản, dễ tính toán để định giá cổ phiếu vì không cần nhiều thời gian phân tích số liệu. Tuy nhiên các nhà đầu tư, thẩm định viên cần phải lưu ý:
• EPS có thể âm và P/E không có một ý nghĩa kinh tế khi mẫu số âm, do đó bạn phải sử dụng các công cụ định giá khác
• Lợi nhuận dễ biến động, và dễ bóp méo do đó P/E cũng dễ biến động hay bóp méo => Nên đánh giá P/E qua thời gian dài từ 3-5 năm.

🐳Khi định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/E thẩm định viên cần linh hoạt không nên áp đặt một một cách khiên cưỡng khi so sánh các công ty khác ngành nghề, hay so sánh công ty với thị trường chung. Vì các doanh nghiệp chịu tác động từ nhiều yếu tố khác nhau nên khó chính xác hoàn toàn khi áp dụng áp dụng hệ số P/E để định giá cổ phiếu.

🐳Tham khảo các phương pháp định giá khách để kết quả thêm khách quan.

Address

Da Kao

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cá Ông posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share