Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc

  • Home
  • Vietnam
  • Soc
  • Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc

Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc, Property investment firm, Khu Công nghiệp Đồng Sóc, Soc.

31/12/2023

Đặt trong bối cảnh năm 2023 với những khó khăn chung của cả nước, tỉnh Vĩnh Phúc đạt được nhiều thành quả có ý nghĩa, giữ vững là một trong 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu về quy mô kinh tế và những chỉ số về an sinh tăng cao…

Học cách bán hàng độc đáo từ chị bán ớtLà nhân viên kinh doanh dù đảm nhận vị trí cũng vài năm nhưng tôi vẫn thường bối ...
24/06/2023

Học cách bán hàng độc đáo từ chị bán ớt
Là nhân viên kinh doanh dù đảm nhận vị trí cũng vài năm nhưng tôi vẫn thường bối rối khi khách hàng của mình đặt câu hỏi “khoai tây” như vậy. Một hôm nhân không có việc gì làm, tôi ghé qua góc ngã tư xin đứng bên cạnh một chị bán ớt với ý định thử xem chị ấy hóa giải câu hỏi hóc búa của khách hàng như thế nào. Nhân lúc trời gần trưa không có người đến mua, tôi dựa vào kinh nghiệm bán hàng của mình mà “dạy” chị ấy rằng: “Theo tôi chị hãy chia chỗ ớt này thành hai phần đi, ví dụ nếu có người muốn mua ớt cay thì cho họ chọn bên này, còn nếu không thì chỉ cho họ chỗ bên kia”. Chị bán ớt nhìn tôi mỉm cười và nói một cách dịu dàng: “Không cần
đâu!”. Hai người đang đà trao đổi thì có một anh đi xe máy ghé đến mua, quả
nhiên anh ta đã đặt chính hỏi câu đó với người bán khi xe vẫn còn nổ máy: “Ớt của chị có cay không?” và chuyện thần kỳ đã xảy ra trước mắt tôi, theo bạn thì chị bán ớt đã nói như thế nào nhỉ? Chị bán ớt với vẻ rất chắc chắn trả lời anh khách rằng: “Trái đậm màu thì cay, còn trái nhạt màu thì không cay!”. Anh khách vui lòng tắt máy đỗ xe để ngồi xuống chọn ớt, chọn xong trả tiền rồi đi khỏi. Rồi những quả ớt nhạt màu
chẳng mấy chốc không còn lại bao nhiêu. Rồi lại có một bác khách hàng lớn tuổi ghé đến, vẫn với câu hỏi đó: “Ớt của cô có cay không?”. Chị bán ớt nhìn vào số ớt đã vơi đi của mình, và đáp: “Dạ, ớt trái dài thì cay, ớt trái ngắn không cay!”. Quả nhiên ông bác liền ngồi xuống mà bắt đầu chọn lựa theo sự phân loại của chị. Lần này là
những trái ớt dài đã nhanh chóng hết sạch. Vừa thú vị vừa lo lắng tôi nhìn những quả ớt vừa ngắn vừa đậm màu còn sót lại và nghĩ thầm “Để xem lần này chị nói thế nào đây?”. Hồi sau có một khách hàng khác đi lại hỏi: “Ớt có cay không bà chủ?”. Lúc này, chị bán ớt trả lời với vị khách một cách hoàn toàn tự tin: “Trái nào vỏ cứng thì cay, nếu vỏ mềm sẽ không cay!”. Tôi nghe xong hoàn toàn bội phục, quả nhiên là cách
bán hàng thần kỳ, chỗ ớt bị phơi nắng nửa ngày trời, nên có rất nhiều quả ớt
trở nên mềm nhũn vì mất nước. Chị bán ớt đã bán xong số ớt của mình, trước khi rời khỏi, chị nói với tôi rằng: “Cách mà anh bày đó, những người đi bán ớt như tôi đều biết cả; còn cách vừa rồi thì chỉ có mình tôi biết thôi”. Quá ư thần kỳ!

Thật ra bạn có bao giờ nghĩ rằng, những gì bạn bán đi không phải là hàng hóa,
mà chính là:
1. Đối với những khách hàng lạ, điều cần bán đi chính là sự lễ phép.
2. Đối với những khách hàng quen thuộc, điều cần bán đi chính là sự nhiệt
tình.
3. Đối với những khách hàng nóng tính, điều bán đi chính là hiệu suất.
4. Đối với những khách hàng ngạo mạn, điều thật sự bán đi chính là lòng
nhẫn nại.
5. Đối với những người có tiền, điều mà bạn bán đi chính là sự tôn quý.
6. Đối với những người nghèo khổ, điều bán đi chính là lợi ích thiết thực.
7. Đối với những người thời thượng, điều bán đi chính là sự sang trọng.
8. Đối với những người chuyên nghiệp, điều mà bạn bán đi chính là sự
chuyên nghiệp.
9. Đối với những người hào sảng, điều mà bạn bán đi chính là sự phóng
khoáng.
10. Đối với những người keo kiệt, điều thật sự bán đi chính là lợi ích.
11. Đối với những người sống hưởng thụ, điều cần bán đi chính là sự phục
vụ.
12. Đối với những người hư vinh, điều bán đi chính là vinh dự.
13. Đối với những người hay bắt bẻ, điều bán đi chính là sự tinh tế.
14. Đối với những người hiền lành, điều cần bán đi chính là sự chân thành.
15. Đối với những người hay do dự, điều thật sự cần bán đi chính là sự đảm
bảo.
Những người làm nghề kinh doanh, buôn bán thường hay nói với người mua
rằng sản phẩm của họ tốt, sản phẩm của họ độc đáo, khác biệt và giá thành lại
rẻ. Nếu như người bán hàng dựa theo những cách này thì nhất định sẽ gặp
phải rất nhiều khó khăn. Lời khuyên là đừng vội vàng bán sản phẩm khi vừa
mới bắt đầu, mà cần phải tìm hiểu rõ vấn đề, biết lắng nghe khách hàng để
xem tiềm ẩn bên trong họ cần những gì. Nếu đã thấu hiểu, biết được nhu cầu
tiềm ẩn bên trong của khách hàng thì khi đó việc bán hàng sẽ trở nên dễ dàng
hơn nhiều.

Trong bức tranh dữ dội thời nhà Trần, nhất là khoảng thời gian 3 lần kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, Trần Quang Khải...
23/06/2023

Trong bức tranh dữ dội thời nhà Trần, nhất là khoảng thời gian 3 lần kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, Trần Quang Khải (1241 - 1294) như là một nét vẽ tinh tế, giàu cảm xúc, đầy thơ mộng. Con người ông từ cậu học trò đến khi giữ chức Thái sư lúc nào cũng tỏ vẻ sự trầm lặng, sự điềm tĩnh của người học rộng, tài cao, người mang trọng trách gánh vác giang sơn.
Ở đây cũng cho thấy cách dùng người hợp lý khi các vua Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) khéo léo khi cân nhắc vị trí cua Trần Quang Khải bên cạnh vị tướng kiệt xuất là Trần Quốc Tuấn. Trong lịch sử, mọi người thường nhớ đến Trần Quang Khải như một tướng văn bên cạnh tướng võ là Trần Quốc Tuấn. Thực tế, cả hai con người này đều văn võ toàn tài. Nhưng xét riêng, Trần Quang Khải là người thiên về văn chương hơn, là nhà ngoại giao, là nhà thơ... Trần Quang Khải là Thái sư, chức lớn chỉ sau vua, còn Trần Quốc Tuấn lại là Quốc công tiết chế, tổng chỉ huy quân đội. Sự sắp xếp hợp lý này giúp cả hai phát huy hết thế mạnh của mình, giúp vua trong xây dựng và đặc biệt là bảo vệ đất nước.
Trong cuộc chiến nói trên, nếu để ý kỹ thì Trần Quang Khải chịu sự điều động của Trần Quốc Tuấn, tất nhiên vị tổng chỉ huy quân đội này muốn điều động Trần Quang Khải phải thông qua vua. Điều hay là Trần Quang Khải, lúc này là Thượng tướng Thái sư, tuân thủ sự điều động này. Lần thứ nhất, ông được điều động về Nghệ An để chặn đường tấn công của Toa Đô. Lần thứ hai, ông được Trần Quốc Tuấn giữ chánh tướng đánh trận Chương Dương và giải phóng Thăng Long.
Điều này cho thấy Trần Quốc Tuấn hiểu được tài năng thực chiến của Trần Quang Khải. Nên nhớ, Trần Quang Khải lúc mới sinh thể chất yếu ớt, lớn lên thụ giáo nhà sử học, người viết bộ chính sử dầu tiên của nước ta Đại Việt sử ký là Lê Văn Hưu. Điều này cho thấy Trần Quang Khải thiên về văn chương, chữ nghĩa hơn là võ nghệ. Tuy nhiên, Trần Quốc Tuấn vẫn tin dùng ông dù trước đó đã cử Trần Kiện với 1 vạn quân trấn giữ Nghệ An.
Quan trọng hơn, Trần Quang Khải hiểu rõ bản thân mình, dù chức cao nhất trong hàng quan lại nhưng vẫn chịu sự điều động của Trần Quốc Tuấn, "người kỳ tài”, như Ngô Sĩ Liên nhận xét. Trước đó, sách sử có kể chuyện Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải “không ưa nhau” (chứ không phải thù nghét nhau, có lẽ do khác biệt về tính cách) chơi cờ với nhau trên thuyền suốt ngày (Trần Quang Khải chủ động đến thuyền của Trần Quốc Tuấn) rồi Trần Quốc Tuấn cho nấu nước lá thơm, tắm cho Trần Quang Khải.
“Quốc Tuấn nói: Hôm nay được tắm cho thượng tướng. Quang Khải cũng nói: Hôm nay được quốc công tắm cho” (Đại Việt Sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, trang 324). Hai ông từ đó, một tướng văn, một tướng võ, tình cảm chan hòa hết lòng giúp vua. Đó cũng là sự tự biết mình, tôn trọng người khác để cùng lo việc lớn.
Trong bài thơ “Xuân nhật hữu cảm” (Cảm xúc ngày xuân) được Ngô Tất Tố: Lâm râm mưa bụi gội hoa mai/ Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi/ Già nửa phần xuân cam bỏ uổng/ Tới năm chục tuổi biết suy rồi/ Mơ màng nước cũ chim bay mỏi/ Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi/Đảm khí ngày nào rày vẫn đó/ Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!
Trong bài thơ này, Trần Quang Khải có câu: “Ngũ thập suy ông dĩ tự tri”: Ông “tự tri” mình đã 50 tuổi và sức khỏe yếu đi. Tuy nhiên, sau đó ông cũng tự thấy: “Sinh bình đởm khí luân huân tại”, nghĩa là ông biết hùng khí nơi con người mình vẫn còn đó. Thật vậy, Trần Quang Khải con người bề ngoài thư sinh, người giàu cảm xúc thơ ca không thiếu lòng yêu nước, cứu dân trước vó ngựa quân xâm lược Nguyên Mông.
Cuộc đời của Trần Quang Khải như hồ nước xanh thẳm và tĩnh lặng vì bản thân ông là người học rộng, tài cao và không thấy cần sự bon chen vị trí cao thấp trong chốn quan trường. Đó là điều để các vua nhà Trần sử dụng ông, phát huy hết khả năng của ông trong cả trị quốc lẫn bảo vệ đất nước.

THÁI SƯ: TRẦN THỦ ĐỘ: 4 Chuyện rất hay về ông. 1/Trần Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan tr...
22/06/2023

THÁI SƯ: TRẦN THỦ ĐỘ: 4 Chuyện rất hay về ông.
1/Trần Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ đều nhờ mưu sức của ông cả. Vì thế ông được nhà nước dựa cậy, quyền át cả vua. Bấy giờ có kẻ dèm pha ông, vào gặp Thái Tông khóc mà nói rằng: "Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?". Thái Tông lập tức lệnh xe ngựa đến dinh Thủ Độ, bắt cả người dèm pha ấy đem theo và nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ biết. Thủ Độ trả lời: "Đúng như những lời hắn nói". Rồi lấy ngay tiền lụa thưởng cho người ấy và cho về.
2/ Linh Từ quốc mẫu, vợ Trần Thủ Độ có lần ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Thủ Độ: "Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế". Thủ Độ tức giận, sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa" Không những không phải chết mà còn được thăng chức và thưởng cho rất nhiều vàng bạc và lụa rồi cho về.
3/ Thủ Độ có lần duyệt định số hộ khẩu, vợ ông là bà Linh Từ xin riêng cho một người làm chức nhỏ ở địa phương. Thủ Độ gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên ở đâu, người đó mừng rỡ, Thủ Độ bảo: "Ngươi vì có Công chúa (tức bà Linh Từ) xin cho được làm câu đương (tên của chức vị ở địa phương), không thể ví những câu đương khác được, phải chặt một ngón tay để phân biệt với người khác". Người đó kêu van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa.
4/ Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là Trần An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: "An Quốc là anh thần, nếu cho giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?". Vua bèn thôi.
Dù Hà Nội không có đường phố nào mang tên ông vì nhiều sử sách ghi lại những chuyện không thực sự hay về ông như:
- Ép vua Lý Huệ Tông tự sát. Sau đó lại giáng chức Hoàng Hậu của Trương Nhị Nương xuống làm công chúa và lấy làm vợ.
- Ép Công chúa Lý Thánh Thiên (khi đang là vợ của Trần Liễu- Bố của Trần Hưng Đạo) khi đang có thai 3 tháng bỏ Trần Liễu và lấy Trần Cảnh (Trần Thái Tông).
- Chôn sống cả gia tộc họ Lý còn sót lại ở Đông Anh- Hà Nội.... ...Nhưng 4 việc ông làm như sử sách ghi trên thì không ai phủ nhận được- Ông là anh Hùng dân tộc và dựng lên triều Trần với gần 200 năm lịch sử qua 12 đời vua với những chiến công hiển hách mang tầm thế giới như 3 lần đại phá giặc Mông-Nguyên.

Chuyện kể về Trần Quang KhảiTrần Quang Khải xuất thân cao quý hơn Trần Quốc Tuấn, bởi vì ông là một hoàng tử, là con ruộ...
21/06/2023

Chuyện kể về Trần Quang Khải
Trần Quang Khải xuất thân cao quý hơn Trần Quốc Tuấn, bởi vì ông là một hoàng tử, là con ruột của vua Trần Cảnh. Tuổi thơ của ông khá bất hạnh, vừa lọt lòng là bị động kinh, ngáp ngáp gần chết. Vua Trần Cảnh rất lo lắng, các bạn có làm cha thì mới hiểu được lòng cha. Đến khi ngự y bó tay thì ông đành cầu may. Ông cầm thanh thượng phương bảo kiếm và áo bào thượng hoàng để bên cạnh Quang Khải mà nói:
-Con cưng, mau khỏi bệnh, rồi bố cho thanh kiếm với cái áo để chơi nè.
Quả nhiên Quang Khải sau đó khỏi bệnh một cách thần kỳ mà đến ngày nay y học vẫn chưa tìm ra nguyên nhân. Trần Cảnh biết mình nói hớ, liền chữa cháy:
-Ờ ừm… khỏi bệnh rồi hả… Ơ mà kiếm truyền ngôi không thể trao bừa được. Ờ thôi con lấy cái áo đi, để lại thanh kiếm cho bố...
Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn không ưa nhau ra mặt, do hai gia đình hiềm khích sẵn từ trước rồi. Nhưng Quốc Tuấn nghĩ huynh đệ trong nhà thì phải hòa thuận, vả lại giặc ngoại xâm rình rập, tốt hơn là nên đoàn kết. Thế là Tuấn rủ Khải đi chơi thuyền một ngày, rồi lại tắm cho cậu em. Mối quan hệ giữa hai anh em nhà này từ đó càng khắng khít. Một hôm, sứ giả Sài Thung theo lệnh vua Mông Nguyên đi qua Đại Việt. Hắn rất kiêu ngạo. Khi mới đến hắn cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh bất chấp luật lệ của nhà Trần là ai cao quý đến đâu qua cửa này cũng phải xuống ngựa. Quân lính ngăn lại, Thung dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu. Vua Trần đãi yến tiệc, hắn cũng không thèm tới vì không phải chỗ hắn thích. Nhà vua phải gửi thư xin lỗi, hứa sẽ đổi địa điểm, năn nỉ mãi hắn mới thèm đi. Rồi vua cho Quang Khải đến tiếp chuyện, hắn nằm khểnh không ra. Đến khi Khải vào tận phòng thì hắn cũng không thèm ngồi dậy. Quang Khải ra về mà máu nóng bốc rần rần, vừa đi vừa bực bội ra mặt.
-Cây muốn lặng và gió chẳng đừng!
Trần Quốc Tuấn tình cờ đi ngang nghe thấy liền hỏi:
-Khải hiền đệ, tiếp đón Sài Thung sao rồi?
Quang Khải tức tối:
-Hắn ta hiếp đáp đệ. Huynh vào mà giải quyết.
Quốc Tuấn lắc đầu, vỗ vai Quang Khải:
-Cứ để huynh!
Quốc Tuấn sau đó cạo đầu, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Thung thấy thế liền đứng dậy vái chào rồi vội vàng mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc hết sức. Hóa ra cạo đầu, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương bắc. Ông ngồi xuống pha trà cùng uống với hắn. Người hầu của Thung cầm mũi tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về Thung ân cần ra cửa tiễn ông.
Hòa hoãn là vậy nhưng Mông Nguyên vẫn sang xâm lược ta lần nữa.
Trong giai đoạn này của cuộc kháng chiến thì Trần Quốc Tuấn có nhiệm vụ đưa vua đi trốn, còn Trần Quang Khải ở lại chặn Nghệ An. Ông trộm nghĩ trọng trách trong tay mình quá nặng nề, nhưng nhất định không để Tuấn huynh và mọi người trong gia tộc thất vọng được. Ông gầm lên:
-SÁT THÁT!!! (Giết giặc Thát- Nguyên Mông).
Quân Mông Cổ của Toa Đô đánh mãi không thắng được quân của Quang Khải, lương thì hết dần, quân tiếp viện không tới. Bế tắc quá, bèn rủ Ô Mã Nhi rút quân. Trần Quang Khải ngay lập tức chỉ huy Trần Nhật Duật và Trần Quốc Toản đem 5 vạn quân đi Hàm Tử tiếp viện. Đến nơi gặp tàn binh Mông Cổ và quângiắc chết vô số.
Kế đó Trần Quang Khải tiếp tục tấn công bến Chương Dương là nơi Mông Cổ neo đậu đại đội thuyền của nó, dụ Thoát Hoan ra khỏi Thăng Long rồi đánh tổng lực trong vòng có hai tháng, hoàng tử Trần Quang Khải đại phá quân Nguyên tận hai lần tại Hàm Tử và Chương Dương, nên khí thế quân nhà Trần được bơm rất mạnh. Sau đó thắng nhiều trận liên tiếp và đuổi được Thoát Hoan về Trung Quốc. Chấm dứt cuộc xâm lăng thứ hai của Mông Cổ.
Tổng kết về cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên ông làm bài thơ ngắn:
Chương Dương cướp giáo giặc.
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái Bình luôn gắng sức.
Non nước ấy muôn thu!
ST

Bản lĩnh phi thường của Thái Sư- Trần Nhật Duật. Điều đặc biệt, vị tướng Trần Nhật Duật khá giống với anh trai của ông l...
20/06/2023

Bản lĩnh phi thường của Thái Sư- Trần Nhật Duật.
Điều đặc biệt, vị tướng Trần Nhật Duật khá giống với anh trai của ông là Trần Quang Khải ở tính cách nghệ sĩ, dù có vẻ mềm mại nhưng bản lĩnh cứng cỏi đến độ phi thường. Đặc biệt, vị tướng này say mê và có khả năng học nhiều ngoại ngữ được xem là xưa nay hiếm. Ông đã vận dụng thế mạnh này trong chiến trận như dùng Triệu Trung đã nói ở trên và ở những lần thu phục các chúa vùng biên.
Sách sử còn kể lại, Trần Nhật Duật thường cưỡi voi đến thôn Bà Già (Hà Nội, nơi định cư của người Chiêm) để học hỏi về ngôn ngữ, văn hóa người Chiêm. Ông thường đến thăm chùa Tường Phủ đàm đạo với tăng sĩ người Tống. Ông hay trò chuyện với Trần Đạo Chiêu, người Tống, hàng tiếng đồng hồ. Ông giỏi tiếng Trung Quốc đến nỗi sứ thần Trung Quốc khăng khăng ông là người Chân Định (một vùng văn vật của Trung Quốc, gần Bắc Kinh) dù ông đã nói rõ ông là người Việt.
Dưới triều Trần Nhân Tông, có lần nước Sách Mã Tích (Singapore ngày nay) sang triều cống, không ai hiểu tiếng nước này, vua phải cho gọi Trần Nhật Duật đến phiên dịch. Cũng do thông thạo nhiều thứ tiếng của dân tộc thiểu số mà Trần Nhật Duật khi mới 20 tuổi được vua cử phụ trách các vấn đề về dân tộc.Khá nhiều câu chuyện về Trần Nhật Duật nói đến sự điềm tĩnh đến kỳ lạ của ông trong cuộc sống. Tuy nhiên, nói về bản lĩnh phi thường của ông sách Sử ký Đại Việt toàn thư cũng như các sách sử sau này nhắc đến chuyện ông một mình tay không tấc sắt dám vào trại của chúa đạo Đà Giang, miền núi Tây Bắc, Trịnh Giác Mật.
Đó là vào năm 1280, Trịnh Giác Mật tụ họp dân nổi lên chống lại triều đình. Lúc này quân Nguyên Mông cũng đang chuẩn bị đánh Đại Việt. Trần Nhật Duật được vua cử đi dẹp loạn.
Chúa Đà Giang Trịnh Giác Mật bắn tin nếu Trần Nhật Duật dám một mình một ngựa đến gặp hắn, hắn sẽ ra hàng. Trịnh Giác Mật tin rằng không ai có thể vào rừng dao biển lửa được. Trước kia có chuyện Quan Vân Trường một mình, một đao phó hội gặp Lỗ Túc - Đại đô đốc Đông Ngô cho thấy đảm lược của vị tướng này.
Nhưng có lẽ Trần Nhật Duật đảm lược không kém vì ông thân vào rừng núi hiểm trở không có đường thoát như Quan Vân Trường, với một đối thủ khó lường hơn rất nhiều là một vị chúa đất đang nổi loạn chống triều đình. Trần Nhật Duật chỉ mang theo mấy tiểu đồng cắp tráp đi hầu, thản nhiên, sắc mặt không đổi khi đi qua rừng gươm giáo của quân Trịnh Giác Mật.Ông vào nói chuyện với Trịnh Giác Mật bằng thổ ngữ của họ, ăn uống bằng cách của họ (trong đó có việc uống rượu bằng mũi). Trịnh Giác Mật cảm phục Trần Nhật Duật (lúc đó mới 27 tuổi) và xin hàng triều đình.
Như vậy, Trần Nhật Duật không mất mũi tên nào mà dẹp được phản loạn, hơn thế còn thu phục họ, để họ còn giúp sức cho triều đình trong việc giữ yên bờ cõi. Các sử gia thế giới coi việc này không kém việc Khổng Minh 8 lần bắt rồi tha Mạnh Hoạch để Mạnh Hoạch tâm phục khẩu phục đầu hàng nhà Thục (Lưu Bị- Tam Quốc Diễn Nghĩa).
Có nhiều truyền thuyết kể về sự ra đời kỳ lạ của Trần Nhật Duật, truyền thuyết kể rằng: Lễ cầu tự kéo dài 21 ngày, một đêm Vũ Phi nằm mộng thấy ngôi sao lớn từ trên không rơi xuống giường nằm của mình, từ đấy bà có mang, đến giờ Ngọ ngày mồng 10 tháng 4 năm Ất Mão (1255) sinh một hoàng tử, dung mạo khác thường, được đặt tên là Nhật Duật.
Cuộc đời vị tướng này đã chứng minh được sự “khác thường” đó: Ông cả lúc làm tướng chiến trường lẫn lúc làm quan triều trình đều xử sự không giống người có quyền lực gần như chỉ sau vua, ông không hề tỏ ra có ham muốn tranh quyền đoạt vị. Ông là người biết dành thời gian cho một con người khác của mình: Yêu thích âm nhạc, sáng tác nhiều bản nhạc, tham gia tổ chức và diễn xướng âm nhạc.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận xét về Trần Nhật Duật: “Ông là bậc thân vương tôn quý, trảiquan bốn triều, ba lần coi giữ trấn lớn, ở nhà không ngày nào không mở cuộc tiệc, bày trò chơi, mà không ai cho là say đắm, so với Quách Tử Nghi cùng xa cực xỉ mà không ai chê, ông cũng gần được như thế” (Đại Việt Sử Ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB văn học 2009, trang 368).
Trần Nhật Duật là người ở trong thời kỳ rực rỡ nhất của triều đại nhà Trần, người có công lớn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Đại Việt hùng mạnh. Với tài năng về quân sự, ông là tướng chỉ huy thắng những trận đánh lớn có tính quyết định. Với sự am hiểu về văn hóa - văn chương uyên bác, ông là nhà cai trị đất nước vững vàng, xứng đáng là trụ cột quốc gia qua nhiều đời vua.
ST

Chân dung của tướng Trần Nhật Duật (1255 - 1330) có vẻ như khó lột tả, khi con người ông đầy tính nghệ sĩ nhưng lại là m...
19/06/2023

Chân dung của tướng Trần Nhật Duật (1255 - 1330) có vẻ như khó lột tả, khi con người ông đầy tính nghệ sĩ nhưng lại là mẫu người kiên cường, dũng cảm.
Ông là người văn võ song toàn, vị tướng nổi bật ở 2 trong 3 cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, làm quan qua nhiều đời vua nhà Trần với chức cao nhất là Thái sư. Thêm nữa, ông lại là con người nghệ sĩ, thích nghiên cứu ngôn ngữ, mê đọc sách.
Họ thường ví ông như Quách Tử Nghi của nhà Đường (Trung Quốc): Công trùm trời đất mà chủ không nghi, địa vị vượt muôn người mà không ai đố kỵ. Đây là điều để nhiều đời vua Trần (Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông) sử dụng ông như là một trụ cột của quốc gia mà không hề mảy may lo lắng.
Vị tướng tài ba và trận Hàm Tử quan
Đầu năm 1284, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Trấn Nam vương Thoát Hoan chia quân làm ba đạo xâm lược Đại Việt. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật trấn thủ lộ Tuyên Quang buộc phải lui binh. Khi xuôi dòng sông Chảy, ông nhận xét: "Truy kích thì phải nhanh, nay chúng lại đi thong thả, sợ có quân phía trước đón chặn". Sau đó, Chiêu Văn Vương sai người đi do thám, quả nhiên thấy người Nguyên đã cho quân chặn ngang ở Hạ Lưu. Nhật Duật mới đưa quân lên bộ và rút lui an toàn khỏi Yên Bái. Đây là sự tinh tế, hiểu biết về khoa học quân sự của vị tướng trẻ chưa đầy 30 tuổi.
Trong thế trận giằng co, diễn biến phức tạp ở cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, quân nhà Trần vừa đánh, vừa tìm cách bảo toàn lực lượng, chờ thời cơ phản công. Lực lượng chính của nhà Trần vừa thoát gọng kìm của giặc, lui về Thanh Hóa thì Trần Nhật Duật chỉ huy 5 vạn quân đánh trận Hàm Tử quan, nơi được coi là trận mở đầu của chiến dịch tổng phản công của quân đội Đại Việt.
Trận đánh diễn ra vào cuối tháng 4/1285, Trần Nhật Duật đã dụng binh một cách kỳ lạ để chiến thắng. Với khả năng nói tiếng Trung Quốc của mình, ông đã thu dụng đội quân nhà Tống do Triệu Trung chỉ huy chạy dạt sang Đại Việt nương nhờ. Khi trận đánh diễn ra, quân Nguyên Mông thấy quân Tống xuất hiện đã hoang mang vì không nắm được tình hình ở Trung Quốc đã xảy ra chuyện gì để quân Tống hợp lực với quân Đại Việt phản công. Do vậy, trước sức tấn công mãnh liệt của đội quân nhà Trần, quân Nguyên Mông tan vỡ, tháo chạy. Có thuyết cho rằng, vì quân của Triệu Trung trong hàng ngũ Đại Việt xung trận quân Tống trong hàng ngũ Nguyên Mông không tận lực nên sức chiến đấu giảm sút.Ở cuộc chiến Đại Việt - Nguyên Mông lần 3, sách sử không nhắc nhiều đến vai trò của Trần Nhật Duật, chỉ biết ông là tướng chỉ huy của 4 vạn quân, đánh nhiều trận thắng lợi.
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nhận định: Trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Đại Việt có rất nhiều dũng tướng, nhưng có “Ngũ hổ tướng quân” là Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão và Trần Nhật Duật. Danh sách này có thể thay đổi theo quan niệm, góc nhìn của mỗi người (ví dụ có thể nhắc đến Trần Thủ Độ, Lê Phụ Trần, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Toản...) nhưng không thể thiếu vị tướng trẻ, tài cao học rộng Trần Nhật Duật.
ST- còn tiếp

Trần Khánh Dư - Võ tướng lắm tài nhiều tật.  Trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà sử học Phan Huy Chú viết Trần Kh...
17/06/2023

Trần Khánh Dư - Võ tướng lắm tài nhiều tật.
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà sử học Phan Huy Chú viết Trần Khánh Dư là người tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất (năm 1258), ông thường thừa cơ đánh úp và giành thắng lợi. Trần Khánh Dư được vua Trần Thánh Tông khen trí dũng, phong làm Thiên tử nghĩa Nam (tức con nuôi của vua).
"Sau khi đánh người Man ở núi, đại thắng, Trần Khánh Dư lại được phong Phiêu Kỵ đại tướng quân. Chức Phiêu Kỵ nếu không phải là hoàng tử thì không được phong, vì ông là con nuôi vua nên mới được. Ông được vua yêu, từ tước hầu mấy lần được phong lên Thượng vị hầu áo tía, rồi cất lên làm phán thủ", sách Lịch triều hiến chương loại chí chép.
Thời gian làm quan trong triều, Trần Khánh Dư đã mắc trọng tội. Ông thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con gái của vua Trần Thánh Tông, vợ của Trần Quốc Nghiễn (con trai của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Sự việc xảy ra trước năm 1282 bị bại lộ, Trần Khánh Dư bị bắt, theo luật thời bấy giờ phải bị xử tội chết, tịch thu hết tài sản.
Vua Trần Thánh Tông rơi vào tình thế khó xử. Không xử Trần Khánh Dư tội chết thì luật pháp không nghiêm và gây ra nỗi hận thù cho Trần Quốc Nghiễn. Vua phải nể mặt Hưng Đạo Vương, nhưng cũng không thể giết người con nuôi vừa có tài, vừa có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Cuối cùng, vua cho dùng cực hình, phạt Khánh Dư 100 trượng, đánh tại Hồ Tây.
Theo luật bấy giờ, đánh 100 roi không chết là thiên mệnh cho sống. Vì vậy, vua Thánh Tông đã ngầm ra lệnh cho quan sai nha đánh chúc gậy xuống khiến Khánh Dư đau nhưng không chết. Như vậy, mọi người đều công nhận ông sống là do "thiên mệnh soi sáng". Cách của vua coi như thành công, hợp lòng người.
Mặc dù không chết, Trần Khánh Dư vẫn bị tịch thu hết tài sản, phế truất binh quyền. Ông về quê cha ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.
Tháng 10/1282, khi nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than, vua Trần Nhân Tông gặp Khánh Dư (khi đó Trần Thánh Tông là Thái Thượng hoàng). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, lúc thuyền của vua đỗ ở bến Bình Than thì bắt gặp một thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua cho thuyền đuổi theo và gọi:
"Ông lái ơi có lệnh vua gọi".
Khánh Dư trả lời:
"Lão là người buôn bán, có việc gì mà vua gọi".
Quân hiệu trở về tâu lại sự việc thì vua chắc chắn đó là Nhân Huệ vương bởi "người thường tất không dám nói thế", liền sai nội thị đi gọi."Nam nhi mà đến thế là cùng cực lắm rồi", vua nói khi Khánh Dư đến gặp rồi xuống chiếu tha tội cho ông, ban áo ngự, cho ngồi ở hàng dưới các vương, hàng trên công hầu. Trần Khánh Dư bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua và được làm phó tướng của Trần Hưng Đạo.
Khi quân Nguyên Mông xâm lược Đại Việt lần thứ ba (năm 1287), thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn (Quảng Ninh ngày nay), Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn lúc đó là Trần Khánh Dư.
Khánh Dư để thất thủ, Thượng hoàng Trần Thánh Tông hay tin liền sai trung sứ đến xiềng ông giải về kinh. Khánh Dư nói với trung sứ: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất vài ba ngày để tôi mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn".
Khánh Dư biết thủy quân của giặc đã qua, thuyền vận tải lương thực chắc chắn theo sau nên thu thập tàn quân đợi chúng. Khi thuyền vận tải lương thực đến, ông đánh bại, bắt được rất nhiều quân lương, khí giới, tù binh của giặc.
Cho rằng chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo và khí giới, nay bị quân Đại Việt bắt, vua tha tội cũ cho Trần Khánh Dư, đồng thời thả tù binh về doanh trại quân Nguyên Mông để báo tin. Điều này buộc quân giặc rút lui.
Sách Danh tướng Việt Nam viết, ngoài tài dùng binh, Trần Khánh Dư còn uyên thâm văn sử. Ông viết bài tựa cho cuốn sách nghệ thuật quân sự “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đoạn mở đầu, ông viết: “Người giỏi cầm quân thì không bày trận, người giỏi bày trận thì không phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết”.
Lời bàn: Trần Khánh Dư có tội tày đình- khi được tha lập nhiều chiến công hiển hách nhưng vẫn phạm tội lợi dụng chức vụ, buôn bán kiếm lời lớn, có tính tham lam, phàm giữ chức trấn thủ ở nơi nào, người trong hạt đều oán ghét".
Nhìn nhận về Trần Khánh Dư, nhà sử học hiện đại Nguyễn Khắc Thuần đã bàn trong Việt sử giai thoại: "Biết được tài của Khánh Dư là vua Trần mà biết được tật của Khánh Dư có lẽ cũng chỉ có vua Trần. Tài thì dùng, tật thì trị... Tiếc thay, Khánh Dư chẳng bỏ được lỗi lầm. Hóa ra, khai sinh danh tướng Trần Khánh Dư là vua Trần, còn khai tử uy danh Trần Khánh Dư lại chính là Trần Khánh Dư".
ST.

Năm 1308, Mạc Đỉnh Chi đi sứ Trung Hoa (vào thời nhà Nguyên). Đến cửa khẩu quá muộn, quân Nguyên canh gác bắt ông và mọi...
15/06/2023

Năm 1308, Mạc Đỉnh Chi đi sứ Trung Hoa (vào thời nhà Nguyên). Đến cửa khẩu quá muộn, quân Nguyên canh gác bắt ông và mọi người tháp tùng phải chờ đến sáng hôm sau mới được phép qua cửa khẩu. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ khiếu nại biện bạch mãi, viên quan phụ trách canh cửa ải thả từ trên lầu cao xuống một câu đối, thách thức sứ bộ Đại Việt nếu đối được thì họ sẽ mở cửa. Câu đối như sau:
“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan”
(Tới cửa ải trễ, cửa ải đóng, mời khách qua đường cứ qua)
Một vế đối hóc búa có 4 chữ quan và 3 chữ quá. Mạc Đỉnh Chi thấy rất khó, ông bèn dùng mẹo để đối như sau:
“Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối”
(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời tiên sinh đối trước)
Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên đã làm hài lòng viên quan ấy, Mạc Đỉnh Chi tưởng lâm vào thế bí hoá ra lại tìm được vế đối hay, khiến cho người Nguyên phải phục tài và liền mở cửa cho đoàn sứ bộ của Mạc Đỉnh Chi qua biên giới.
Tới Kinh Đô, Mạc Đỉnh Chi được mời vào tiếp kiến với Hoàng Đế nhà Nguyên.
Vua Nguyên đọc một câu đối đòi ông phải đối lại:
“Nhật : Hoả; Vân : Yên; bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ”
(Mặt trời là lửa; mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng)
Mạc Đỉnh Chi hiểu rõ thâm ý tỏ vẻ kiêu ngạo của một nước lớn và cả mục đích đe doạ của vua Nguyên.
Mạc Đỉnh Chi đã ứng khẩu đọc :
“Nguyệt : Cung; Tinh : Đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô”
(Trăng là cung; sao là tên; chiều tối bắn rụng mặt trời)
Vế đối của ông rất chuẩn, nói lên được chí khí của người dân nước Việt, không run sợ mà sẵn sàng đối mặt để giữ gìn bờ cõi giang sơn tổ quốc.
Một lần khác, Mạc Đỉnh Chi cùng với sứ thần một số nước ra mắt vua Nguyên. Nhân lúc có nước Triều Tiên dâng lên một chiếc quạt, vua Nguyên liền bắt sứ thần Đại Việt và sứ thần Triều Tiên đề thơ. Trong lúc Mạc Đỉnh Chi đang tìm tứ thơ thì sứ Triều Tiên đã tìm ra ý và viết rất nhanh. Mạc Đỉnh Chi liếc nhìn 2 câu thơ của sứ Triều Tiên viết bằng chữ Hán, dịch nghĩa như sau:
“Nóng nực oi ả, thì như Y Doãn, Chu Công (là những người được vua tin dùng)
Rét buốt lạnh lùng thì như Bá Di, Thúc Tề…” (là những nguời bị ruồng bỏ)
Từ ý hai câu thơ trong bài thơ đang viết dở của sứ giả Triều Tiên, Mạc Đỉnh Chi liền phát triển nhanh hoàn thành một bài thơ rất xuất sắc mô tả chiếc quạt:
“Lưu kim thước thạch, thiên vị địa lô, nhĩ ư tư thì hề, Y Chu cự nho.
Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thì hề, Di Tề ngã phu.
Y ! Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù.”
Dịch nghĩa:
Chảy vàng, tan đá, trời đất như lò; ngươi bấy giờ là Y Chu đại nho.
Gió bấc căm căm, mưa tuyết mịt mù, ngươi bấy giờ là Di Tề đói xo.
Ôi ! Được dùng thì làm, bỏ thì nằm co, chỉ ta cùng ngươi là thế ru !
Bài của Mạc Đỉnh Chi làm xong trước, ý sắc sảo, văn lại hay, cho nên vua Nguyên vừa xem vừa gật gù tấm tắc khen mãi. Cảm phục trước tài đức của Mạc Đỉnh Chi, Vua Nguyên chính tay mình viết vào tờ sắc phong Lưỡng Quốc Trạng Nguyên cho ông.
Cuộc sống mới vẫn tiếp diễn, cái cũ đã qua đi, nhưng những câu chuyện cũ thì vẫn còn mãi trong lòng người đời sau nhắc nhở. Tôi xin được phép kết thúc bài viết này bằng một câu thơ cổ:
“Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
(Xưa nay bất tử mấy người
Lòng son để lại rạng ngời sử xanh).
ST

Bài Điếu văn độc đáo của Lưỡng Quốc Trạng nguyên: MẠC ĐĨNH CHI Mạc Đĩnh Chi, một con người có dáng dung không được đẹp l...
14/06/2023

Bài Điếu văn độc đáo của Lưỡng Quốc Trạng nguyên:
MẠC ĐĨNH CHI

Mạc Đĩnh Chi, một con người có dáng dung không được đẹp lắm, nhưng bù lại ông rất mực tài hoa đức độ. Có một số người tài “sinh bất phùng thời”, nhưng Mạc Đỉnh Chi thì rất may mắn, ông sinh ra và trưởng thành vào thời vua Trần Anh Tông, là một trong năm vị vua Trần sau khi truyền ngôi cho con đều lên Yên Tử tu thiền và trở thành Thiền sư thuyết pháp hoá độ chúng sanh.
Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, triều đình mở khoa thi lấy 44 người đổ Thái Học Sinh (Tiến Sĩ), Mạc Đỉnh Chi đổ đầu, chiếm ngôi vị Trạng Nguyên. Ông được bổ nhiệm giữ việc coi sóc thư khố của nhà vua rồi đến chức Tả Bộc Xạ (Thượng Thư). Ông có hai lần đi sứ Trung Quốc. Trong hai lần đi sứ này, bằng tài năng ứng đối đề thơ và phẩm chất thông minh của mình khiến cho vua quan nhà Nguyên hết sức khâm phục.
Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi
Những giai thoại về tài ứng đối và đề thơ của Mạc Đỉnh Chi trong hai lần đi sứ này là những câu chuyện rất hấp dẫn khiến cho người đời sau cũng phải nức lòng ngợi khen một con người thông minh xuất chúng.
Và cũng trong một lần đi sứ, Mạc Đỉnh Chi sang sứ đúng vào dịp người hậu phi của vua Nguyên mất, người Nguyên đưa cho Chánh sứ An Nam bài điếu văn viết sẵn bảo đọc. Khi Mạc Đỉnh Chi mở giấy ra thì chỉ thấy viết có 4 chữ “Nhất” (là số một) và yêu cầu ông không được phạm húy: Không nói đến từ mất, chết, hậu, phi…. Ông chẳng hề lúng túng, ông bình tĩnh suy nghĩ rất nhanh, rồi đọc thành bài điếu văn đầy đủ như sau:
“Thanh thiên nhất đoá vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y ! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.”
(Dịch nghĩa:
“Một đám mây giữa trời xanh,
Một bông hoa tuyết trong lò lửa
Một đoá hoa nơi vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước hồ
Ô hô ! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết)
Bài điếu văn độc đáo trên đã làm cho vua Nguyên rất cảm kích xúc động, ngộ ra cái lẻ vô thường của Đạo Phật, mọi sự không thể vạn tuế, vạn vạn tuế như lời chúc tụng của muôn dân, mà phải tuân theo cái nghịch lý khắc nghiệt biến hoại vô thường không trừ một ai. Hiểu được cái lẽ vô sinh bất diệt đó,con người sẽ trở nên hướng thiện, biết trân quý từng giây phút để sống có ích cho cuộc đời này mà không so đo lời lỗ thiệt hơn, như con ong hút mật rất nhẹ nhàng có ý thức, không làm đau bông hoa, vô tư miệt mài dâng cho đời mật ngọt, giống như cuộc đời ông đã hiến dâng hết tài hoa cho đất nước. Bài điếu văn trên được sử sách Trung Hoa ghi lại là một trong những điếu văn ngắn và hay nhất!
Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi được sinh ra trong đời nhà Trần, một triều đại Đạo Phật cực thịnh, bài điếu văn trên có thể nói lên được phẩm chất Đạo Phật dạt dào trong con người ông. Vì vậy ông sống rất liêm khiết và thanh bạch, tuy làm quan to nhưng vẫn nghèo.Vua Trần Minh Tông biết rõ gia cảnh của ông bèn sai người lúc nửa đêm bỏ 10 quan tiền trước nhà ông, khi thức dậy ông cầm số tiền đó vào triều tâu vua, vua cười bảo :”Không ai đến nhận, khanh cầm lấy mà tiêu”
Thơ phú của Mạc Đỉnh Chi để lại đã mai một đi nhiều, người đời sau chỉ còn giữ lại được một tập sách : “Ngọc tĩnh liên phú” và 4 bài thơ đăng ở Việt Âm thi tập và Toàn Việt thi lục. Dù không nhiều nhưng tất cả còn lại đó lànhững bài thơ phú rất đặc sắc phô diễn được tài năng văn chương của một vị Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.
Như những vị quan khác, khi về nghỉ hưu, ông cũng mở trường dạy học cho con em, Ở vào một cương vị mới, đó là người thầy, một cái nghề mà có lẻ ông yêu quý hơn bao giờ hết, bởi vì ông đã hoàn thành xuất sắc cái nhiệm vụ cao cả tổ quốc giao phó và ông cũng đã cống hiến hết mình tài năng đức độ cho đất nước, phần đời còn lại không gì vui hơn là mở trường dạy học cho con em quê hương. Những người học trò của ông dù có phiêu bạt tới phương trời nào cũng không quên bài học ông dạy từ một bài điếu văn gồm bốn chữ “Nhất” và những câu chuyện ứng đối trong những lần đi sứ, đó là những bài học thực tiển sinh động nhất để ông truyền thừa những gì tinh hoa nhất của ông cho những đứa học trò yêu thương.
ST- Còn tiếp!

Address

Khu Công Nghiệp Đồng Sóc
Sóc

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Vĩnh Phúc:

Share